
Ngày 4/5/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, xác định khu vực này là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
Với hơn 940.000 doanh nghiệp và 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP và sử dụng 82% lực lượng lao động, khu vực tư nhân đang giữ vai trò trung tâm trong đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tuy nhiên, Nghị quyết cũng chỉ rõ: kinh tế tư nhân vẫn còn đối mặt với nhiều rào cản thể chế, thiếu khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, và đặc biệt là quyền tài sản chưa được bảo đảm đầy đủ. Để hiện thực hoá mục tiêu phát triển, Nghị quyết yêu cầu tạo môi trường pháp lý thuận lợi, tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tài sản – trong đó có tài sản trí tuệ – như một phần cốt lõi trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân.
“Một quốc gia phát triển, tài sản trí tuệ có thể chiếm tới 80% tổng giá trị tài sản. Bởi vậy, phát triển, giao dịch và bảo vệ tài sản trí tuệ phải là trọng tâm của một quốc gia muốn phát triển.” Đây là phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2025 của ngành khoa học công nghệ.
Câu nói ấy phản ánh một xu thế không thể đảo ngược: trong nền kinh tế số, giá trị doanh nghiệp không còn nằm ở máy móc, nhà xưởng, mà ở những tài sản vô hình – đặc biệt là quyền sở hữu trí tuệ.
Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), vào thập niên 1980, tài sản sở hữu trí tuệ chỉ chiếm 20% giá trị doanh nghiệp, nhưng hiện nay đã tăng lên đến 80%. Tại Mỹ, theo báo cáo của USPTO, có 75 ngành công nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào quyền SHTT, đóng góp trên 5.000 tỷ USD – tương đương 34,8% GDP và tạo ra 27,1 triệu việc làm.
Không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng, quyền sở hữu trí tuệ còn là loại tài sản thực sự.
Bộ luật Dân sự 2015 khẳng định tài sản bao gồm cả "quyền tài sản có thể định giá được bằng tiền" (Điều 105, 115) trong đó quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền tài sản. Luật sở hữu trí tuệ cũng xác định quyền sở hữu trí tuệ là quyền đối với tài sản trí tuệ (Điều 4.1).
Theo Thông tư 37/2024/TT-BTC về chuẩn mực thẩm định giá, một tài sản vô hình cần có ba điều kiện: (1) bằng chứng tồn tại; (2) khả năng tạo lợi ích kinh tế; và (3) có thể định giá bằng tiền.
Quyền sở hữu trí tuệ đáp ứng đầy đủ cả ba. Một thương hiệu đã đăng ký, một sáng chế được cấp bằng, một phần mềm có giấy phép khai thác – đều có thể định giá, li-xăng, thừa kế, kê biên, hoặc góp vốn. Ví dụ: thi sĩ Hữu Loan chuyển nhượng quyền tác giả bài thơ "Màu tím hoa sim" với giá 100 triệu đồng; giống thanh long ruột đỏ LĐ1 được Viện Cây ăn quả miền Nam chuyển giao với giá 5 tỷ đồng.
Tài sản vô hình là tài sản không mang hình thái vật chất, nhưng lại có thể tạo ra lợi ích kinh tế, được bảo hộ bởi pháp luật, và có thể bị xâm phạm. Đặc điểm nổi bật nhất của quyền sở hữu trí tuệ – như một dạng tài sản vô hình – là tính sinh lợi không cạnh tranh: một bản nhạc có thể phát cho hàng triệu người, một sáng chế có thể cấp phép cho nhiều doanh nghiệp mà không làm “hao mòn” tài sản gốc.
Khác với tài sản hữu hình, tài sản vô hình không thể cầm nắm, di chuyển, lưu kho hay tiêu dùng vật lý.
Tuy nhiên, giá trị của nó lại được phản ánh một cách cụ thể trong các giao dịch góp vốn, hợp đồng li-xăng, hay các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại lên tới hàng chục triệu USD.
Điều này giải thích vì sao ngày càng nhiều quốc gia ban hành các cơ chế pháp lý, tài chính và thuế quan để thúc đẩy việc tài sản hóa quyền sở hữu trí tuệ – từ hệ thống định giá, quy trình ghi nhận vào sổ sách kế toán cho tới cơ chế hỗ trợ thế chấp, bảo lãnh vay vốn dựa trên tài sản vô hình.
Các doanh nghiệp tư nhân – đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa – đang nỗ lực đổi mới, sáng tạo, cải tiến sản phẩm, mô hình kinh doanh, xây dựng thương hiệu. Nhiều sản phẩm Made in Vietnam có chất lượng cao, giá thành cạnh tranh, tiềm năng mở rộng thị trường toàn cầu. Nhưng trái ngược với tốc độ đổi mới ấy là thực trạng doanh nghiệp chưa có thói quen bảo hộ và tài sản hóa quyền sở hữu trí tuệ.
Thế nhưng, hầu hết những tài sản vô hình ấy lại chưa được bảo hộ. Sáng chế không đăng ký. Nhãn hiệu để trống. Bí mật công nghệ không được xác lập quyền. Nhiều trường hợp, sản phẩm bị làm giả, thương hiệu bị chiếm dụng, hoặc mất quyền vì không biết cách nộp đơn đúng thời điểm. Đó là một nghịch lý: doanh nghiệp càng đổi mới, càng dễ bị tổn thương nếu không có "lớp áo pháp lý" từ hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Trong bối cảnh đó, việc tài sản hóa quyền sở hữu trí tuệ – thông qua đăng ký, định giá, đưa vào báo cáo tài chính, góp vốn, chuyển nhượng, hoặc làm tài sản đảm bảo – trở thành yêu cầu tất yếu. Đây không chỉ là vấn đề tuân thủ pháp luật, mà là một chiến lược sống còn để doanh nghiệp bảo vệ thành quả đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Phát triển kinh tế số đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách nhìn: không chỉ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà còn coi đó là một loại tài sản cốt lõi – có giá trị, có thể thương mại hóa, và cần được đầu tư bài bản như bất kỳ tài sản nào khác của doanh nghiệp.
Đã đến lúc các văn bản pháp luật – đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ – cần chính thức ghi nhận định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ là một dạng tài sản vô hình.
Việc bổ sung định nghĩa này không chỉ giúp thống nhất hệ thống pháp luật, mà còn tạo cơ sở vững chắc để tài sản hóa, định giá, kê khai và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thực tiễn kinh doanh và xét xử. Nếu hệ thống pháp luật Việt Nam sớm hoàn thiện về phương diện này, chúng ta sẽ có thêm công cụ để hỗ trợ doanh nghiệp Việt đi nhanh hơn trên con đường chinh phục thị trường quốc tế bằng năng lực sáng tạo và giá trị tri thức nội sinh.
*Luật sư Lê Quang Vinh - Giám đốc Công ty sở hữu trí tuệ Bross & Partners
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khuyến cáo khách hàng cần tuyệt đối cảnh giác, không truy cập liên kết lạ, không cung cấp mã OTP và chỉ giao dịch qua các kênh chính thống của ngành điện…
Đề án định hướng coi người cao tuổi là nguồn lực quý giá cần được phát huy và chăm sóc, là động lực tăng trưởng mới trong bối cảnh già hóa dân số...
Thời gian qua, hoạt động tổ chức cho người khác xuất nhập cảnh, di cư trái phép diễn ra ở phạm vi rộng, liên quan nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Các đối tượng tổ chức cho công dân Việt Nam xuất cảnh sang các nước sau đó trốn ở lại...
Bộ Nội vụ giao Vụ Chính quyền địa phương xây dựng báo cáo đánh giá về sự cần thiết tiếp tục nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển. Qua đó, nhằm phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số...
Số lao động thiếu hụt này chủ yếu tập trung ở các ngành công nghệ cao, kỹ thuật và phát triển bền vững, theo Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới, theo GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.