Theo báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Nội vụ), trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt 66.311 lao động, đạt 59,2% kế hoạch năm (năm 2026, kế hoạch đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là 112.000 lao động).
Nhật Bản tiếp tục dẫn đầu trong số các thị trường tiếp nhận, với 28.488 lao động, tiếp đến là Đài Loan (Trung Quốc) với 28.205 lao động, đứng thứ 3 là Hàn Quốc 3.373 lao động, sau đó là Trung Quốc 1.946 lao động, Singapore 968 lao động, Hy Lạp 537 lao động và các thị trường khác.
Riêng với thị trường Nhật Bản, ông Vũ Trường Giang, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, đánh giá số lượng lao động đưa đi vẫn đang tăng lên.
Theo thống kê, tổng số lao động Việt Nam hiện đang làm việc tại Nhật Bản khoảng 480.000 người, bao gồm thực tập sinh (khoảng 220.000 người), lao động đặc định, lao động kỹ thuật. Riêng lao động diện kỹ sư khoảng hơn 100.000 người, với thu nhập cao, có khả năng ở lại làm việc lâu dài tại Nhật Bản.
Hiện công dân Việt Nam đang làm việc tại Nhật Bản khoảng 680.000 người. Phía Nhật Bản cũng đang kỳ vọng tăng số lao động Việt Nam sang làm việc tại nước này trong thời gian tới.
Dù số lao động đưa đi làm việc ở nước ngoài nửa đầu năm nay ở mức cao, song so với cùng kỳ năm ngoái, có sự sụt giảm khoảng 11,22% (6 tháng đầu năm 2025 đưa được 74.691 lao động).
Lý giải về điều này, tại họp báo chiều 19/6, ông Vũ Trường Giang, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Nội vụ), cho biết sự sụt giảm xuất phát từ nhiều yếu tố.
Đặc biệt, khi số lao động đưa đi được quyết định bởi các thị trường tiếp nhận lao động, nhất là tại các thị trường truyền thống giảm tuyển dụng. Điều này không chỉ xảy ra với lao động Việt Nam mà nhiều nước khác trong khu vực cũng đang đối mặt.
Bên cạnh đó, bất ổn chính trị, chiến tranh tại một số khu vực trên thế giới cũng ảnh hưởng đến việc tiếp nhận lao động. Một số quốc gia có tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam trong vùng bị ảnh hưởng nên doanh nghiệp khó đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài hơn.
Mặt khác, dòng người ở các quốc gia bất ổn chính trị di cư vào các thị trường lao động trọng điểm nên các doanh nghiệp giảm tuyển dụng lao động.
Tình hình kinh tế ở các quốc gia khó khăn hơn cũng là yếu tố khiến người lao động có sự cân nhắc khi lựa chọn các thị trường đi làm việc.
Ông Giang lấy ví dụ, như thị trường Nhật Bản, đồng Yên trượt giá đến 150%, thu nhập giảm sút phần nào khiến thị trường này kém hấp dẫn với lao động Việt Nam. Dù vậy, số lượng lao động đưa đi vẫn dẫn đầu trong các thị trường tiếp nhận.
Không chỉ khó khăn từ các thị trường tiếp nhận, ông Giang cho biết việc sụt giảm số lao động đưa đi còn xuất phát từ chính yếu tố nội tại.
Hiện nguồn nhân lực đưa đi làm việc ở nước ngoài chịu cạnh tranh trực tiếp từ thị trường lao động trong nước. “Mức thu nhập của lao động trong nước ngày càng tăng. Các tập đoàn xây dựng đang chào tuyển những vị trí lao động phổ thông từ 15 - 17 triệu đồng/tháng, lao động kỹ thuật đến 30 triệu đồng. Điều này dẫn đến người lao động sẽ có sự so sánh mức lương khi làm việc trong nước với khi ra nước ngoài làm việc”, ông Giang dẫn chứng.
Theo ông Giang, thực tế, hiện người lao động trong nước cũng có nhiều lựa chọn hơn là có nguyện vọng ra nước ngoài làm việc như giai đoạn trước đây, nhất là khi thị trường lao động trong nước ngày càng hấp dẫn.
Dù có thách thức, nửa cuối năm 2026, Cục Quản lý lao động ngoài nước đặt mục tiêu hoàn thành chỉ tiêu đưa 112.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, phấn đấu đạt 150.000 lao động.




Nhóm thủ tục được sửa đổi, bổ sung lần này bao quát nhiều nội dung gắn trực tiếp với quá trình giải quyết, thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, từ các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, đến các chế độ dài hạn như lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, tử tuất và các thủ tục trong lĩnh vực bảo hiểm y tế...
Đại hội đại biểu toàn quốc Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện quan trọng trong việc định hướng phát triển khu vực kinh tế tập thể, đặt mục tiêu đến năm 2031 cả nước có 45.000 hợp tác xã, 8 triệu thành viên và đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh...
Chiều 21/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện Hỏa tốc số 57/CĐ-TTg gửi Chủ tịch UBND 19 tỉnh, thành phố Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ cùng các Bộ, ngành liên quan, yêu cầu tiếp tục chủ động ứng phó thiên tai và tập trung khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ...
Từ quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đã bổ sung chế độ trợ cấp hằng tháng đối với người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu, và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Trong thời gian hưởng trợ cấp, họ còn được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế để đảm bảo quyền lợi khi đi khám chữa bệnh...
Ngày 21/8/2026, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành Công điện hỏa tốc số 14/CĐ-TL-ATĐ chỉ đạo các địa phương khu vực Đông Bắc Bộ và từ Thanh Hóa đến Nghệ An triển khai cấp bách các biện pháp bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, cấp nước sạch nông thôn và phòng, chống ngập úng sản xuất nông nghiệp trước diễn biến mưa lớn do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.