Ngày 01/11/2022, S&P Global công bố báo cáo Chỉ số Nhà quản trị mua hàng sản xuất Việt Nam (PMI) tháng 10/2022. Trong đó có 3 điểm nhấn đáng chú ý: Nhu cầu thấp hơn dẫn đến sự gia tăng đơn đặt hàng mới yếu hơn; Tăng trưởng sản lượng, việc làm và mua hàng tăng nhẹ; Áp lực lạm phát vẫn được duy trì.
Báo cáo chỉ rõ, mặc dù điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào đầu quý 4/2022, nhưng đã có dấu hiệu chững lại trong bối cảnh tăng trưởng đơn hàng mới yếu hơn.
Trên thực tế, hoạt động kinh doanh mới tăng ở mức độ ít nhất trong hơn một năm, dẫn đến sản lượng, việc làm và hoạt động mua hàng tăng nhẹ hơn. Trong khi đó, áp lực chi phí đã được giảm bớt, các công ty cũng chỉ tăng nhẹ giá bán.
PMI trong tháng 10/2022 giảm xuống 50,6 điểm so với mức 52,5 điểm trong tháng 9/2022 cho thấy, các điều kiện hoạt động trong tháng về tổng thể vẫn cải thiện, nhưng kết quả này là mức thấp nhất trong thời kỳ tăng kéo dài 13 tháng gần đây.
Nguyên nhân chính khiến tăng trưởng tổng thể chậm lại trong tháng 10 là mức tăng yếu hơn của số lượng đơn đặt hàng mới.
Tổng số lượng đơn đặt hàng mới chỉ tăng nhẹ, với mức tăng ít nhất từ khi bắt đầu thời kỳ tăng hiện nay vào tháng 10/2021. Khi các đơn đặt hàng mới tăng lên, điều này có liên quan đến nhu cầu mạnh hơn, giá cả cạnh tranh và việc đảm bảo khách hàng mới. Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu cho thấy nhu cầu giảm dần, bao gồm cả xuất khẩu cũng tăng với tốc độ chậm hơn.
Các nhà sản xuất tiếp tục mở rộng sản xuất vào đầu quý cuối cùng của năm để đáp ứng số lượng các đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng. Điều này cho thấy, phù hợp với xu hướng kinh doanh mới và trong bối cảnh nhu cầu có dấu hiệu giảm, tốc độ mở rộng đã giảm bớt và ở mức thấp nhất trong ba tháng. Sản lượng tăng được thấy ở các nhà sản xuất hàng tiêu dùng, hàng trung gian và hàng đầu tư.
Sản lượng tăng nhẹ hơn và các đơn đặt hàng mới được phản ánh trong việc tăng trưởng hoạt động mua hàng và việc làm trong tháng 10/2022. Hoạt động mua hàng hóa đầu vào tăng ở mức thấp nhất trong bảy tháng, trong khi tốc độ tạo việc làm chậm nhất kể từ tháng 7.
Tuy nhiên, số lượng nhân viên vẫn tăng ổn định trong tháng, từ đó góp phần làm giảm lượng công việc tồn đọng khi số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn đồng nghĩa với việc năng lực sản xuất không phải chịu áp lực.
Tồn kho cả hàng mua và hàng thành phẩm đều giảm trong tháng 10, đảo ngược mức tăng đã thấy trong kỳ khảo sát trước đó. Sự sụt giảm lượng hàng tồn kho trước khi sản xuất trên thực tế là đáng kể trong 16 tháng giữa bối cảnh lượng đơn đặt hàng và mua mới tăng trưởng chậm hơn, trong khi kho thành phẩm thường giảm do tốc độ mở rộng sản xuất chậm hơn.
Tốc độ tăng chi phí đầu vào nhanh hơn nhưng vẫn tương đối thấp và chậm hơn nhiều so với thời gian trước đó trong năm. Những người được hỏi cho rằng giá đầu vào tăng liên quan đến chi phí dầu, khí đốt, nguyên liệu thô và vận tải cao hơn. Mức tăng giá đầu ra cũng không thay đổi và thực sự giảm nhẹ từ tháng 9.
Trong tháng thứ ba liên tiếp, thời gian giao hàng của các nhà cung cấp đã rút ngắn một chút trong tháng 10, cho thấy chuỗi cung ứng tiếp tục ổn định sau một thời gian gián đoạn liên tục. Hoạt động mua hàng hóa đầu vào tăng trưởng nhanh hơn đã làm giảm áp lực lên các nhà cung cấp, mặc dù vẫn có một số sự cố chậm trễ do thiếu nguyên liệu và các khó khăn trong khâu vận chuyển.
Mặc dù, các đơn đặt hàng mới dự kiến sẽ được cải thiện và dịch Covid-19 không còn gây gián đoạn sản xuất, giúp các nhà sản xuất vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới, song niềm tin đã giảm xuống mức thấp nhất trong 13 tháng với một số lo ngại về dấu hiệu nhu cầu suy yếu.
Bình luận về kết quả khảo sát, ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence nhấn mạnh, dữ liệu PMI tháng 10 cho thấy những dấu hiệu đầu tiên của sự suy yếu trong nền kinh tế toàn cầu đang bắt đầu ảnh hưởng đến tăng trưởng của các nhà sản xuất Việt Nam, với cả đơn đặt hàng mới và xuất khẩu đều tăng ở mức thấp nhất trong 13 tháng. Những lo lắng xung quanh điều kiện nhu cầu cũng ảnh hưởng đến niềm tin kinh doanh.
Tuy nhiên, với việc tiếp tục mở rộng sản lượng và việc làm cùng với áp lực giá và nguồn cung giảm có thể giúp ngành sản xuất của Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng trong thời điểm cuối năm.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.