
Thủ tướng Chính Phủ đã có quyết định số 140/QĐ-TTg ngày 16/1/2025 phê duyệt quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển, bến cảng khu vực nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó, cảng biển Hải Phòng được quy hoạch 5 khu với khoảng 70 - 74 bến cảng đảm bảo đến năm 2030 thông qua được hơn 215 triệu tấn hàng hoá và 22.800 lượt khách mỗi năm.
Theo đó, hệ thống cảng biển Hải Phòng được quy hoạch thành 5 khu bến cảng gồm khu bến Lạch Huyện, khu bến Đình Vũ, khu bến sông Cấm - Phà Rừng, khu bến Nam Đồ Sơn - Văn Úc và khu bến cảng huyện đảo Bạch Long Vĩ cùng các bến phao, khu neo đậu, khu chuyển tải hàng hoá.
Trong đó, khu bến Đình Vũ được quy hoạch 15 bến cảng (gồm 35 cầu cảng), đáp ứng nhu cầu thông qua 80 triệu tấn hàng hoá/năm. Khu bến cảng huyện đảo Bạch Long Vĩ được quy hoạch 2 cầu cảng nhằm đáp ứng nhu cầu thông qua 100.000 - 200.000 tấn/năm.
Khu bến Lạch Huyện được quy hoạch là cảng hàng hoá và cảng hành khách lớn nhất trong hệ thống cảng biển Hải Phòng với 13 - 16 bến cảng (gồm 14 - 18 cầu cảng). Các bến cảng khu bến Lạch Huyện có công suất thiết kế đáp ứng nhu cầu thông qua từ 61,4 - 90 triệu tấn hàng hoá/năm, vận chuyển từ 10.500 - 11.000 lượt hành khách/năm.
Khu bến sông Cấm - Phà Rừng không phát triển, mở rộng mà từng bước di dời, chuyển đổi công năng các bến cảng hiện hữu từ khu vực cầu Bạch Đằng đến hạ lưu cảng Vật Cách với lộ trình phù hợp quy hoạch phát triển thành phố Hải Phòng và tiến trình đầu tư xây dựng các bến cảng tại khu bến Văn Úc.
Đối với khu bến Nam Đồ Sơn - Văn Úc thì tại khu vực Nam Đồ Sơn có 2 bến khởi động đáp ứng nhu cầu thông qua từ 10 - 12 triệu tấn hàng hoá/năm, vận chuyển từ 9.900 - 11.800 lượt hành khách/năm. Khu vực sông Văn Úc được phát triển đồng bộ với tiến trình di dời các bến cảng trong sông Cấm và lộ trình đầu tư các khu công nghiệp, cụm công nghiệp liền kề.
Khu vực bến sông Cấm - Phà Rừng, Văn Úc được quy hoạch từ 38 - 39 bến cảng (gồm 49 - 54 cầu cảng), các bến cảng này đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hoá từ 23,7 - 32,6 triệu tấn/năm.
Ngoài ra, theo quy hoạch chi tiết, tại các khu vực trên sông Bạch Đằng, sông Cấm, khu vịnh Lan Hạ, Hòn Dấu, Bến Gót, Ninh Tiếp, Lạch Huyện và một số khu vực khác được xây dựng khu neo đậu tránh, trú báo cho các phương tiện thuỷ hoạt động trên vùng nước cảng biển Hải Phòng.
Cũng theo quy hoạch, tầm nhìn đến năm 2050, khu bến Lạch Huyện có quy mô mở rộng tới 20 bến cảng container, khu bến Nam Đồ Sơn phát triển quy mô phù hợp với nhu cầu tăng trưởng hàng hoá qua hệ thống cảng biển khu vực Hải Phòng.
Cùng với hệ thống bến cảng được quy hoạch, tại khu vực cảng Hải Phòng sẽ ưu tiên thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng công cộng như đầu tư xây dựng luồng sông Văn Úc - Nam Đồ Sơn và hệ thống đê (giai đoạn khởi động cảng Nam Đồ Sơn), nâng cấp mở rộng luồng hàng hải kênh Hà Nam, đoạn luồng Lạch Huyện (bao gồm vùng quay tàu). Đối với các dự án phát triển bến cảng biển, ưu tiên đầu tư, đưa vào khai thác từ bến số 3 đến bến cảng số 8 tại khu bến Lạch Huyện.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, hệ thống cảng biển Việt Nam được phân thành 5 nhóm, cảng biển Hải Phòng nằm trong nhóm cảng số 1 bao gồm cảng biển Hải Phòng, cảng biển Quảng Ninh, cảng biển Thái Bình, cảng biển Nam Định và cảng biển Ninh Bình.
Cảng biển Hải Phòng và cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu có quy mô lớn, chức năng là cửa ngõ ra biển của khu vực kinh tế phía Bắc và khu vực kinh tế phía Nam nên được phân loại là cảng biển đặc biệt.
Với quy hoạch sản lượng hàng hoá thông qua cảng đạt 215,5 triệu tấn/năm, cảng biển Hải Phòng cùng với cảng biển Bà Rịa – Vũng Tàu (236,9 triệu tấn/năm) cảng biển TP. Hồ Chí Minh (253 triệu tấn/năm) trở thành 3 cảng biển có lượng hàng hoá thông qua lớn nhất cả nước.
Thành phố Cần Thơ đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội và đạt nhiều kết quả tích cực trong 6 tháng đầu năm 2026. Tăng trưởng GRDP ước tăng 6,70% so cùng kỳ năm ngoái...
FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Đà phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam tiếp tục được củng cố nhờ việc triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, GDP quý 2/2026 ước tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động xuất nhập khẩu duy trì tăng trưởng mạnh trong 6 tháng với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước...
Quyết định 1129/QĐ-TTg về chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công được kỳ vọng tạo chuyển biến trong chỉ đạo, điều hành, trở thành căn cứ đánh giá chất lượng công việc, thi đua, khen thưởng và kỷ luật.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế... GDP sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta vẫn tăng tới 8,18%. Khu vực 2 là động lực chính cho GDP đạt con số trên.