Kỳ 2: Từ câu chuyện FDI, cần thay đổi tư duy đối xử doanh nghiệp

FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...

Doanh nghiệp nội chỉ có thể lớn lên khi có hệ sinh thái đúng: vốn dài hạn, tín dụng hợp lý, công nghệ, nhân lực, tiêu chuẩn, logistics, pháp lý, mua sắm công, liên kết chuỗi cung ứng và một môi trường cạnh tranh đủ công bằng để tích lũy - Thaco Industrial
Doanh nghiệp nội chỉ có thể lớn lên khi có hệ sinh thái đúng: vốn dài hạn, tín dụng hợp lý, công nghệ, nhân lực, tiêu chuẩn, logistics, pháp lý, mua sắm công, liên kết chuỗi cung ứng và một môi trường cạnh tranh đủ công bằng để tích lũy - Thaco Industrial

Tài nguyên phát triển quốc gia hiện đại không chỉ là dầu khí, than đá hay khoáng sản, còn là quỹ đất sạch và không gian công nghiệp; là vị trí logistics, cảng biển, sân bay, hạ tầng kết nối; là điện ổn định, nước, viễn thông, dữ liệu, hạ tầng số; là lao động trẻ, kỹ sư, công nhân lành nghề, chuyên gia quản trị; là ưu đãi thuế, ưu tiên thủ tục, hỗ trợ đào tạo, hỗ trợ tín dụng; là thị trường trên 100 triệu dân; và cả “cửa sổ cơ hội phát triển” - tức cơ hội chính trị, chu kỳ dân số vàng và vị trí địa kinh tế trong thời điểm chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc.

TÀI NGUYÊN QUỐC GIA PHẢI ĐƯỢC PHÂN BỔ THEO THỨ TỰ ƯU TIÊN CHIẾN LƯỢC

Nhóm chuyên gia gồm: Ông Huỳnh Hồ Đại Nghĩa, Khoa Chính sách Công, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh; và ông Lâm Xuân Minh, Thành viên Tổ tư vấn kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai, cho rằng tất cả những nguồn lực ấy đều hữu hạn và phải được phân bổ theo thứ tự ưu tiên chiến lược. Nhưng thời gian qua, những nguồn lực tốt nhất như vị trí đất, điện ổn định, chính sách ưu đãi mạnh, kết nối tốt,.. chủ yếu được huy động để phục vụ khu vực ngoại. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt phải phát triển trong môi trường vốn đắt, mặt bằng khó, tiêu chuẩn cao nhưng hỗ trợ yếu, thì mô hình đó sớm muộn cũng đẩy nền kinh tế vào thế bất lợi.

Việc sử dụng tất cả tài nguyên để đổi lấy một dự án chủ yếu lắp ráp, sử dụng ít nhà cung ứng Việt, ít đào tạo công nghệ cho người Việt và không để lại năng lực sản xuất sâu trong nước không còn là “thu hút đầu tư” theo nghĩa chiến lược nữa. Đó là bán rẻ thời gian phát triển, nguồn lực nội tại để đổi lấy chỉ tiêu tăng trưởng.

Do đó, đã đến lúc chúng ta phải làm rõ: những dự án FDI hiện hữu lấy gì của Việt Nam và để lại gì cho Việt Nam? Nếu lấy nhiều hơn để lại, thì không thể tiếp tục trải thảm theo lối cũ.

Ở một tầng sâu hơn, hai chuyên gia cho rằng câu chuyện quá lệ thuộc FDI bản chất là tư duy đối xử doanh nghiệp. Trong nhiều năm, chúng ta đã vô thức duy trì hai lăng kính khác nhau. Với doanh nghiệp nước ngoài, ngôn ngữ thường sử dụng là “thu hút”, “hỗ trợ”, “tháo gỡ”, “trải thảm”, “cải thiện môi trường đầu tư”. Với doanh nghiệp trong nước, ngôn ngữ lại thường là “quản lý”, “kiểm tra”, “tuân thủ”, “điều kiện”, “kiểm soát rủi ro”. Hai sắc thái ngôn từ đó phản ánh hai trật tự ưu tiên khác nhau.

Trong khi doanh nghiệp FDI được coi là nguồn lực phải kéo vào, thì doanh nghiệp nội bị nhìn như đối tượng phải quản chặt. Kết quả là doanh nghiệp ngoại thường được hưởng sự chủ động tiếp cận ưu đãi, còn doanh nghiệp Việt phải mất nhiều thời gian hơn để chứng minh mình xứng đáng được hỗ trợ.

Trong khi ấy, doanh nghiệp Việt muốn lớn lên cần thời gian tích lũy dài hơn nhiều. Họ cần vốn kiên nhẫn hơn, mặt bằng ổn định hơn, cơ chế thử nghiệm nhiều hơn, hỗ trợ công nghệ sâu hơn, đào tạo nhân lực tốt hơn và quan trọng nhất là Nhà nước thực sự tin rằng doanh nghiệp bản địa là trụ cột chiến lược chứ không chỉ là phần bổ sung của nền kinh tế.

Doanh nghiệp nội chỉ có thể lớn lên khi có hệ sinh thái đúng: vốn dài hạn, tín dụng hợp lý, công nghệ, nhân lực, tiêu chuẩn, logistics, pháp lý, mua sắm công, liên kết chuỗi cung ứng và một môi trường cạnh tranh đủ công bằng để tích lũy.

Chính vì vậy, thời điểm này là lúc phải đổi tư duy đối xử doanh nghiệp, và ưu tiên đúng nghĩa thể nên hiện ở hai khía cạnh

Thứ nhất: Khi phân bổ nguồn lực khan hiếm, phải đặt câu hỏi nguồn lực ấy có làm doanh nghiệp Việt mạnh lên không?. Khi thiết kế ưu đãi, phải đo bằng giá trị ở lại trong nền kinh tế chứ không chỉ đo đếm bằng tổng lượng vốn cam kết, giải ngân mỗi năm, mỗi quý.

Thứ hai: Khi lựa chọn ngành chiến lược, phải bảo đảm doanh nghiệp Việt có chỗ đứng thực chất trong cấu trúc phát triển tương lai của nền kinh tế; và khi nói về cạnh tranh quốc gia, phải hiểu rằng cạnh tranh cuối cùng là cạnh tranh của năng lực sản xuất, công nghệ và thương hiệu của doanh nghiệp bản địa.

Nếu không đổi tư duy ấy, Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng trong trạng thái có thể gọi là “phát triển thuê” ngay trên lãnh thổ của mình

Do đó, điểm mấu chốt ở đây không phải là Việt Nam cần ít FDI hơn, mà Việt Nam cần FDI chất lượng hơn, chọn lọc hơn, gắn với yêu cầu lan tỏa mạnh hơn và đồng thời nội lực phải được bồi dưỡng có chủ đích hơn.

FDI cần tiếp tục được chào đón trong những lĩnh vực mà Việt Nam cần công nghệ, mạng lưới thị trường, năng lực quản trị và quy mô sản xuất. Nhưng mức độ ưu đãi dành cho FDI không quyết định bởi quy mô vốn đăng ký hay số việc làm tạo ra mà phải giải đáp được bài toán: dự án đó giúp doanh nghiệp Việt học tập, tham gia và mạnh lên được gì?

FDI vẫn cần tiếp tục được chào đón trong những lĩnh vực mà Việt Nam cần công nghệ, mạng lưới thị trường, năng lực quản trị và quy mô sản xuất.
FDI vẫn cần tiếp tục được chào đón trong những lĩnh vực mà Việt Nam cần công nghệ, mạng lưới thị trường, năng lực quản trị và quy mô sản xuất.

Nhấn mạnh sự khác biệt trong nhận thức về FDI là thay thế tư duy thu hút đầu tư bằng tư duy kiến tạo năng lực quốc gia, nhóm tác giả muốn khẳng định trong bất kỳ quyết định phân bổ nguồn lực nào, thước đo cuối cùng phải là lợi ích phát triển bền vững, dài hạn của xã hội Việt Nam.

Một quốc gia có tầm nhìn chiến lược không chống FDI mà phải định giá lại điều kiện để FDI được hưởng tài nguyên quốc gia. Việc định giá lại ấy tối thiểu phải dựa trên bốn tiêu chí:

Thứ nhất: Dự án có sử dụng và phát triển nhà cung ứng trong nước đến đâu.

Thứ hai: Có đào tạo và nâng cấp nhân lực Việt Nam đến đâu.

Thứ ba: mang vào công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D) và tiêu chuẩn có thể lan tỏa đến đâu.

Thứ tư: Có để lại giá trị dài hạn trong nền kinh tế thay vì chỉ tạo kim ngạch ngắn hạn.

Nếu những tiêu chí đó không được đặt lên hàng đầu, chúng ta sẽ tiếp tục lặp lại mô hình cũ: tăng trưởng nhiều, tích lũy ít.

PHẢI ƯU TIÊN YẾU TỐ LÀM DÀY NĂNG LỰC QUỐC GIA

Một khu công nghiệp lấp đầy nhanh chưa chắc tốt hơn một hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ Việt Nam lớn lên chậm hơn nhưng bền hơn. Một dự án FDI vốn lớn chưa chắc tốt hơn một dự án ít vốn hơn nhưng có công nghệ lõi hơn. Một chỉ tiêu xuất khẩu đẹp chưa chắc giá trị hơn việc doanh nghiệp Việt lần đầu bước được vào khâu thiết kế, linh kiện hay phần mềm công nghiệp.

Tư duy mới mà Việt Nam cần theo đuổi là cần ưu tiên những đối tượng, yếu tố làm dày năng lực quốc gia, vì thế, nên dựa trên bốn nguyên tắc.

Ông Lâm Xuân Minh, Thành viên Tổ tư vấn Kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai.
Ông Lâm Xuân Minh, Thành viên Tổ tư vấn Kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai.

Thứ nhất: Ưu tiên giá trị ở lại chứ không chỉ ưu tiên vốn đi vào. Một nền kinh tế không thể sống lâu bằng việc đếm số vốn đăng ký; điều quan trọng hơn là sau  5 năm, 10 năm, phần nào của công nghệ, kỹ năng, hệ sinh thái sản xuất và năng lực doanh nghiệp thực sự ở lại trong nước.

Thứ hai: Ưu tiên năng lực nội sinh chứ không chỉ ưu tiên hiệu quả ngắn hạn. Những chính sách làm GDP tăng thêm vài phần mười trong một năm nhưng làm chậm sự lớn lên của doanh nghiệp Việt trong 10 năm có thể là những chính sách rất đắt giá.

Thứ ba: Ưu tiên những doanh nghiệp và ngành có khả năng kéo cả hệ sinh thái đi lên, chứ không dàn trải nguồn lực.

Thứ tư: Ưu tiên chủ quyền phát triển, là khả năng tự mình quyết định nền kinh tế sẽ sản xuất gì, ai làm chủ các mắt xích giá trị cao, dữ liệu thuộc về ai, công nghệ lõi nằm ở đâu và tài nguyên quốc gia được dùng để làm giàu cho ai. Nếu thiếu chủ quyền phát triển, một nền kinh tế có thể tăng trưởng mà vẫn yếu.

Nhìn chung, theo quan điểm của nhóm chuyên gia, nếu vẫn muốn dùng chữ “cai”, thì Việt Nam không cần cai FDI, mà cần cai bốn thứ khác.

Một là, cai tâm lý xem vốn ngoại là thước đo gần như mặc định của thành công phát triển.

Hai là, cai thói quen bán rẻ tài nguyên hữu hạn để đổi lấy tăng trưởng ngắn hạn.

Ba là, cai cách nghĩ cho rằng doanh nghiệp Việt phải tự lớn lên trong khi hệ thống nguồn lực lại nghiêng về phía khác.

Bốn là, cai mô hình phát triển mà phần năng động nhất của nền kinh tế không thuộc quyền làm chủ sâu của người Việt.

Chỉ khi “cai” được bốn thứ đó, Việt Nam mới có thể bước sang giai đoạn phát triển trưởng thành, bền vững hơn.

Khi đó, thành công của chính sách thu hút đầu tư sẽ được đánh giá bằng tiêu chí: sau mỗi chu kỳ tăng trưởng, nền kinh tế Việt Nam đã tích lũy thêm được bao nhiêu năng lực để người Việt tự chủ nhiều hơn chính nền kinh tế của mình.

Phân Bón Cà Mau nâng tầm giá trị mới cho Cà phê Robusta Việt

Việt Nam hiện là quốc gia sản xuất Robusta lớn nhất thế giới, xuất khẩu khoảng 1,5 triệu tấn mỗi năm, đóng góp hơn 43% sản lượng Robusta toàn cầu và tạo sinh kế cho hơn 600.000 hộ nông dân. Song, để biến lợi thế thị trường thành lợi thế cạnh tranh bền vững, chất lượng Robusta Việt cần được nâng tầm từ gốc rễ sản xuất.

Hoàn thiện hạ tầng và thể chế để khơi thông “dòng chảy” logistics Việt Nam

Việt Nam được đánh giá có nhiều lợi thế để thu hút đầu tư vào lĩnh vực logistics nhờ vị trí địa lý chiến lược, khả năng kết nối thương mại và tiềm năng phát triển hạ tầng. Tuy nhiên, để chuyển hóa những lợi thế này thành động lực tăng trưởng, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, thể chế và đẩy mạnh chuyển đổi số...

Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy