Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, hàng loạt tổ chức tài chính lớn trên thế giới đã đồng loạt điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 so với các báo cáo trước đây.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Liên hợp quốc (UN) và Fitch Ratings (FR) đồng loạt điều chỉnh giảm 0,2 điểm phần trăm, theo đó, dự báo tăng trưởng cụ thể của IMF là 3,1%, UN là 2,5%, và Fitch Ratings là 2,4%. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới (WB) cũng điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm xuống còn 2,8% (OECD) và 2,5% (WB).
Nhận diện rõ những thách thức từ bên ngoài, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai đồng bộ, linh hoạt các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính, đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự chuyển biến này chính là việc vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Song song đó, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ đã nâng cao đáng kể hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
“Những cải cách này không chỉ mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên kết vùng mà còn giúp huy động, sử dụng tối ưu các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội quý 2 và 6 tháng đầu năm 2026 đạt được nhiều kết quả tích cực”, bà Hương nhấn mạnh.
Cụ thể, theo Báo cáo Tình hình kinh tế xã hội quý 2 và 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 2/2026 ước tính tăng trưởng khá mạnh với tốc độ đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GDP toàn nền kinh tế tăng 8,18%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 7,63% của cùng kỳ năm 2025.
Bức tranh tăng trưởng ghi nhận sự đóng góp đồng đều và tích cực từ cả ba trụ cột của nền kinh tế. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ vững vai trò “bệ đỡ” với giá trị tăng thêm tăng 3,87%, đóng góp 5,66% vào tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (ngành nông nghiệp tăng 3,57%; lâm nghiệp tăng 3,98%; thủy sản tăng trưởng ấn tượng với 4,88%).
Khu vực công nghiệp và xây dựng duy trì mức tăng trưởng tích cực nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của các đơn hàng xuất khẩu cùng hiệu ứng lan tỏa từ các dự án đầu tư công trọng điểm. Theo đó, giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng 6 tháng đầu năm tăng vọt 9,86% so với cùng kỳ năm 2025, đóng góp tới 40,35% vào tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là trụ cột dẫn dắt nền kinh tế với mức tăng 10,23% (đóng góp 33,07% vào tổng giá trị tăng thêm).
Các ngành sản xuất - phân phối điện tăng 9,34%; cung cấp nước và xử lý chất thải tăng 7,72%; khai khoáng tăng 6,67%. Ngành xây dựng cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao với 9,51%.
Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải và du lịch tăng trưởng mạnh mẽ nhờ nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao, chuỗi cung ứng lưu thông hàng hóa trong nước diễn ra nhộn nhịp. Khu vực dịch vụ tăng 8,09% trong 6 tháng đầu năm, đóng góp 47,14% vào mức tăng chung.
Các ngành dịch vụ thị trường chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng rất tốt: Vận tải kho bãi tăng 10,18%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,67%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,97%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,99%.
Về cơ cấu nền kinh tế, theo bà Nguyễn Thị Hương, 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn.
Cụ thể, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,61% (giảm so với mức 11,28% của cùng kỳ năm 2025); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,66% (tăng so với mức 36,82% của năm 2025) và khu vực dịch vụ chiếm 43,52% (giảm so với 43,59% của cùng kỳ năm 2025) và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,21%
Xét về góc độ sử dụng GDP trong 6 tháng đầu năm, xu hướng hội nhập và đầu tư phát triển thể hiện vô cùng rõ nét. Tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng mạnh ở mức 15,20%.
Đặc biệt, hoạt động xuất, nhập khẩu chứng kiến sự bùng nổ khi xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20,18%, còn nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng tới 26,44% để phục vụ nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất và đầu tư công nghệ cao.
UBND tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo rà soát từng dự án, từng vướng mắc để xử lý dứt điểm, nhất là công tác giải phóng mặt bằng các dự án điện…
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Trong các thương vụ huy động vốn, IPO hay mở rộng chuỗi cung ứng quốc tế, thông tin phát triển bền vững đang dần trở thành một phần của đối thoại tài chính. Với sự ra đời của IFRS S1 và IFRS S2, doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu công bố nhiều thông tin hơn, mà còn phải chứng minh các rủi ro và cơ hội về phát triển bền vững có thể tác động như thế nào đến triển vọng kinh doanh và khả năng tiếp cận vốn…
Với kết quả phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu tỉnh tiếp tục bứt phá về tăng trưởng, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, phát triển hạ tầng chiến lược và chuẩn bị Đề án xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mang đặc trưng đô thị di sản vào năm 2030.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.