Báo cáo vĩ mô 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng GDP ấn tượng đạt 8,18%. Trong đó, động lực chính đến từ đà phục hồi mạnh mẽ của khu vực công nghiệp - xây dựng, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân tích cực...
Tuy nhiên, đằng sau con số tăng trưởng khả quan đó, nền kinh tế đang cho thấy những thách thức nội tại và áp lực tích tụ từ bên ngoài.
Một là, áp lực lạm phát và chi phí đẩy. Chỉ số CPI 7 tháng đầu năm tăng 4,39% so với cùng kỳ, tiến sát ngưỡng mục tiêu do Quốc hội đặt ra do xu hướng tăng giá nguyên vật liệu, năng lượng nhập khẩu và chi phí logistics leo thang. Trong khi đó, dù chi phí năng lượng được loại trừ trong danh mục tính, lạm phát cơ bản cũng tăng 4,19%.
Hai là, chi phí vốn cao. Mặt bằng lãi suất cho vay 7 tháng đầu năm 2026 vẫn neo ở mức cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2025, tạo thêm gánh nặng tài chính cho cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn cần phục hồi sức mua.
Ba là, giải ngân đầu tư công chưa đồng đều. Mặc dù được kỳ vọng là “vốn mồi” dẫn dắt kinh tế, tỷ lệ giải ngân đầu tư công bình quân cả nước 7 tháng đầu năm mới đạt 425.312 tỷ đồng, tương ứng 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn so với kỳ vọng.
Do đó, chặng đường nửa cuối năm 2026 được dự báo sẽ giai đoạn thử thách “sức bền” của nền kinh tế khi tình hình thế giới biến động phức tạp và các nút thắt vốn trong nước đòi hỏi giải pháp tháo gỡ đột phá.
Dù sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu và xu hướng chi tiêu bùng nổ cho trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra những cơ hội nhất định cho xuất khẩu và thu hút FDI của Việt Nam, song các chuyên gia cảnh báo các yếu tố này cũng kéo theo chi phí đầu vào tăng cao, tác động trực tiếp đến áp lực lạm phát.
Đánh giá về các rủi ro bên ngoài trong những tháng cuối năm tại tọa đàm do VIS Rating tổ chức mức đây, ông Phan Quốc Bửu, Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), lưu ý hai biến số lớn.
Thứ nhất, nguy cơ lạm phát chi phí đẩy xuất phát từ căng thẳng địa chính trị. Căng thẳng leo thang trong quan hệ Mỹ - Iran đang đẩy giá dầu mỏ toàn cầu tăng vọt. Điều này không chỉ truyền dẫn áp lực giá cả vào hàng hóa tiêu dùng trong nước mà còn mà còn thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để hỗ trợ phát triển kinh tế.
Thứ hai, rủi ro chính sách thương mại quốc tế, đặc biệt là “bài toán” thuế quan từ thị trường Mỹ. Các quyết định mang tính bước ngoặt dự kiến diễn ra vào tháng 11/2026 đang tạo ra tâm lý chờ đợi, thiếu ổn định cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
“Đây là ẩn số lớn đòi hỏi các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải xây dựng các kịch bản phòng ngừa rủi ro tỷ giá và chủ động đa dạng hóa thị trường ngay từ bây giờ “, ông Bửu phân tích.
Về bối cảnh trong nước, bài toán nhức nhối nhất đối với doanh nghiệp hiện nay là chi phí vốn. Lãi suất cho vay neo cao 6 tháng qua đã phần nào cản trở đà mở rộng sản xuất - kinh doanh.
Theo đại diện BSC, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng đã tiệm cận đỉnh và sẽ bắt đầu ổn định hơn trong nửa cuối năm. Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng “neo” cao lãi suất nằm ở sự mất cân đối cục bộ giữa huy động và tín dụng. Chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi trong hệ thống ngân hàng hiện ở mức 2,6 triệu tỷ đồng.
Trái ngược hoàn toàn với sự căng thẳng thanh khoản tại các ngân hàng thương mại, một lượng tiền mặt quy mô khủng vẫn đang “nằm yên” tại Kho bạc Nhà nước do tiến độ giải ngân các dự án công còn chậm.
Do đó, muốn giảm áp lực thanh khoản cho ngân hàng và hạ mặt bằng lãi suất mà không cần nới lỏng chính sách tiền tệ gây rủi ro lạm phát, giải pháp hiệu quả lúc này chính là đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công để bơm lượng vốn tắc nghẽn này trở lại lưu thông. Do đó, chuyên gia của BSC cho rằng “chìa khóa” vĩ mô quan trọng nhất nửa cuối năm chính là thúc đẩy các dự án hạ tầng.
Dòng tiền từ Kho bạc khi được bơm ngược trở lại nền kinh tế thông qua các dự án hạ tầng sẽ là “liều thuốc” giúp cải thiện thanh khoản hệ thống ngân hàng về cuối năm.
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước sẽ có thêm dư địa để nắn dòng tín dụng tập trung có chọn lọc vào các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng (sản xuất, hạ tầng) thay vì bơm vốn dàn trải ở mức 18-19% như giai đoạn trước.
Khi room tín dụng ngân hàng được định hướng ưu tiên có chọn lọc, vai trò của thị trường trái phiếu doanh nghiệp như một kênh dẫn vốn trung - dài hạn càng trở nên cần thiết.
Dữ liệu từ Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam (VBMA) cho thấy, 6 tháng đầu năm 2026, tổng lượng trái phiếu phát hành riêng lẻ đạt 163.000 tỷ đồng. Sự hồi phục này là tín hiệu mừng, nhưng nhìn sâu vào cơ cấu, tính lệch pha vẫn rất lớn khi khối tài chính - ngân hàng chiếm tới 60% lượng phát hành và bất động sản chiếm 15%. Các ngành sản xuất, thương mại và hạ tầng dài hạn chiếm tỷ trọng khiêm tốn.
Việc ban hành Nghị định 200/2026/NĐ-CP quy định về chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong nước và quốc tế được xem là bước ngoặt pháp lý để định hình lại cuộc chơi theo hướng minh bạch hơn.
Đánh giá về tác động của quy định mới, ông Đỗ Mạnh Hùng, Quyền Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư và Tư vấn (Maybank), nhận định thị trường đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng “nâng chuẩn”. Các đợt phát hành thành công gần đây đa phần đều đòi hỏi bảo lãnh thanh toán từ các định chế tài chính lớn (Big 4, Big 7) hoặc các quỹ quốc tế như CGIF. Các dòng vốn ngoại cũng yêu cầu tài sản bảo đảm và dòng tiền dự án phải được cô lập, thế chấp rõ ràng.
Tuy nhiên, để trái phiếu doanh nghiệp thực sự trở thành trụ cột vốn thay thế bớt áp lực cho ngân hàng, bà Nguyễn Thị Kiều Hạnh, Trưởng nhóm Phân tích VIS Rating, nhấn mạnh 3 ưu tiên cốt lõi.
Một là, xây dựng cơ chế định giá theo rủi ro. Hiện tại, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu dựa vào năng lực “thương lượng” thay vì phản ánh đúng mức độ rủi ro tín dụng. Mức chênh lệch lãi suất giữa các doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp từng chậm trả nợ chưa có sự phân hóa rõ nét. Cần mở rộng quy định bắt buộc xếp hạng tín nhiệm để hình thành đường cong lợi suất làm tham chiếu chuẩn mực cho thị trường.
Hai là, mở rộng cơ sở nhà đầu tư tổ chức dài hạn. Cần tháo gỡ các nút thắt pháp lý để thu hút sự tham gia sâu rộng hơn của các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí. Đây mới là nguồn cung vốn kiên nhẫn, giúp doanh nghiệp phát hành tránh khỏi vòng lặp phát hành kỳ hạn ngắn rồi chịu áp lực đảo nợ liên tục.
Ba là, nâng cao năng lực thực thi của tổ chức trung gian. Các cơ chế bảo vệ nhà đầu tư (như đại diện người sở hữu trái phiếu, quản lý tài sản đảm bảo) cần hoạt động thực chất hơn, tránh tình trạng khi xảy ra vi phạm, việc xử lý tài sản kéo dài bế tắc do vướng mắc pháp lý và năng lực yếu kém của các bên trung gian.
Dù vậy, trong bối cảnh các biến số vĩ mô trong và ngoài nước đan xen nhiều rủi ro khó lường, dù thông qua kênh tín dụng ngân hàng hay thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nguyên tắc cốt lõi là dòng tiền phải được dẫn dắt bởi nền tảng phân tích rủi ro minh bạch và định giá tín nhiệm chuẩn xác.
“Chỉ khi dòng vốn được phân bổ đúng chỗ, đúng mức độ rủi ro, nền kinh tế mới tạo ra được bệ phóng tài chính vững chắc, đủ sức chống chịu trước những “cơn gió ngược” để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm”, bà Hạnh nhấn mạnh.
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ không gian số sang môi trường vật lý. Thay vì chỉ giới hạn trong việc xử lý dữ liệu, hình ảnh hay ngôn ngữ trên không gian mạng, AI giờ đây đang được “hiện thân” vào các robot, thiết bị tự hành và các dây chuyền sản xuất thông minh...
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) công bố ngày 6/10 của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), kinh tế khu vực này dự kiến tăng trưởng 4,5% trong năm 2026. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng khi được WB nâng dự báo tăng trưởng lên mức 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó…
Việc tổn thất 1,14% GDP mỗi năm từ thuốc lá đang trực tiếp cản trở mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, đồng thời kéo lùi các nỗ lực phát triển con người…
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu không chỉ đổi mới mạnh mẽ về thể chế, khoa học, công nghệ, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mà còn phải huy động được sức mạnh của toàn xã hội.
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.