Thưa ông, nhìn lại năm 2024 vừa qua, trong bối cảnh xuất khẩu của cả nước đạt kết quả rất khả quan, riêng với thị trường Nhật Bản, ông đánh giá thế nào về tình hình xuất khẩu của Việt Nam?
Theo số thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2024 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Nhật Bản đạt 46,20 tỷ USD, tăng 2,77% so với năm 2023. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Nhật Bản đạt 24,61 tỷ USD, tăng 5,55% so với năm 2023. Việt Nam xuất siêu sang Nhật Bản 1,23 tỷ USD.
Năm 2024, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam – Nhật Bản vẫn còn gặp nhiều khó khăn do biến động từ tình hình địa chính trị thế giới, khu vực. Đồng thời, lạm phát vẫn ở mức cao và đồng Yên yếu dẫn tới giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng, gây áp lực lên chi tiêu của người tiêu dùng; tuy nhiên, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa song phương vẫn tăng trưởng khả quan.
Theo số liệu thống kê của Hải quan Nhật Bản, nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam của Nhật Bản có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của nhập khẩu hàng hóa từ thế giới. Việt Nam hiện là đối tác nhập khẩu lớn thứ 8 của Nhật Bản.
Đáng chú ý, nhiều mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản đều có kim ngạch tăng từ 0,65% - 37,65% so với năm 2023 như: hàng dệt may, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng thủy sản, phương tiện vận tải và phụ tùng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại các loại và linh kiện, giày dép các loại…
Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản, thực phẩm khác cũng có mức tăng trưởng rất tốt, như cà phê tăng 30,74%, rau củ quả tăng 15,39%, bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc tăng 26,81%…
Theo ông, đâu là cơ hội cho hàng hóa Việt Nam tăng tốc mạnh mẽ hơn nữa vào thị trường Nhật Bản trong năm 2025?
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong hai tháng đầu năm 2025, xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Nhật Bản đạt 4,16 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2024. Với kết quả này, tôi cho rằng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản vẫn còn nhiều dư địa để tăng tốc.
Nhật Bản có dân số hơn 126 triệu người, là thị trường có nhu cầu nhập khẩu và tiêu thụ lớn đối với các sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh như: nông lâm, thủy sản (trái cây, thực phẩm đông lạnh, thủy hải sản, sản phẩm gỗ…); các sản phẩm chế biến chế tạo: sản phẩm dệt may, da giầy; phương tiện vận tải, phụ tùng… Đây là yếu tố rất thuận lợi để Việt Nam có thể tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng này sang thị trường Nhật Bản.
Mặt khác, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản ngày càng phát triển tốt đẹp trên mọi lĩnh vực và ngày càng đi vào chiều sâu. Việc triển khai các thỏa thuận hợp tác mang lại nhiều cơ hội cho hoạt động thương mại, đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước nói chung và xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản nói riêng.
Hiện nay, Bộ Công Thương, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản và các đơn vị liên quan đang triển khai nhiều hoạt động để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, mở rộng thị trường. Theo đó, bên cạnh việc quảng bá, đẩy mạnh xúc tiến tiêu thụ sản phẩm hàng hóa đến đối tác và người tiêu dùng Nhật Bản, Thương vụ đang tích cực giới thiệu, kêu gọi hợp tác đầu tư đồng bộ từ khâu sản xuất, bảo quản, logistics, thương mại… để góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam.
Đặc biệt, chất lượng của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam ngày càng được cải thiện và nâng cao, từ đó đáp ứng được yêu cầu khắt khe của các thị trường khó tính, trong đó có Nhật Bản. Cùng với đó, người tiêu dùng Nhật Bản đã dần cởi mở hơn với việc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu (trong đó có sản phẩm của Việt Nam), nhất là với các sản phẩm thị trường ngách hoặc đáp ứng được thị hiếu của họ. Đây là cơ hội tốt đối với xuất khẩu hàng tiêu dùng, đồ chơi, dụng cụ thể thao… cho doanh nghiệp Việt Nam.
Trong bối cảnh lạm phát vẫn tiềm ẩn, người tiêu dùng Nhật Bản có xu hướng quan tâm hơn tới các hàng hóa chất lượng tốt và giá cả hợp lý, thay vì những hàng hóa xa xỉ. Đây cũng là cơ hội tốt cho hàng hóa Việt Nam chinh phục người tiêu dùng Nhật Bản. Hơn nữa, việc sản phẩm hàng hóa của Việt Nam chinh phục được thị trường vốn khó tính như Nhật Bản cũng có thể coi như một chứng nhận tiêu chuẩn để tiếp cận, mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác.
Ngoài ra, hiện nay cộng đồng người Việt và cộng đồng người gốc Á nói chung tại Nhật Bản ngày càng phát triển nên nhu cầu tiêu thụ, sử dụng các sản phẩm Việt Nam tại Nhật Bản cũng tăng lên tương ứng. Điều này cũng mang lại cơ hội cho doanh nghiệp để đẩy mạnh tiêu thụ sang thị trường Nhật Bản.
Mặc dù có nhiều cơ hội mở ra cho hàng hóa Việt Nam tiến vào thị trường Nhật Bản năm 2025, nhưng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang biến động mạnh, những thách thức nào đặt ra cho doanh nghiệp Việt Nam, thưa ông?
Bên cạnh những cơ hội đang mở ra cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Nhật Bản, vẫn còn một số thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt.
Trước hết, Nhật Bản là một trong những thị trường có nhiều quy định nhập khẩu nghiêm ngặt nhất trên thế giới. Người tiêu dùng Nhật Bản có yêu cầu cao và tương đối đặc thù từ kiểu dáng, hình thức, công năng đến chất lượng của sản phẩm. Trong khi đó, nhiều sản phẩm của Việt Nam chưa đảm bảo tính ổn định, thống nhất về chất lượng và thường hạn chế về hình thức, mẫu mã, chủng loại, chưa chú trọng đến việc xây dựng hình ảnh, thương hiệu sản phẩm…
Tiếp đến, sức ép cạnh tranh tại thị trường Nhật Bản là rất lớn. Hầu hết các đối thủ chính đều trong cùng khu vực và khá tương đồng với Việt Nam về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang Nhật Bản, khoảng cách vận chuyển,… đồng thời đều là thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và cũng có các Hiệp định thương mại tự do (FTA) khác với Nhật Bản.
Thậm chí, ngay cả trong các lĩnh vực sản phẩm có thế mạnh, sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam không hẳn có lợi thế vượt trội về chất lượng, mức độ đa dạng hay thương hiệu so với các đối thủ này.
Một thách thức lớn nữa mà đến nay chưa giải quyết được, đó là xuất phát từ tập quán thương mại, hầu hết nhà nhập khẩu Nhật Bản thường ưu tiên nhập sản phẩm và phân phối dưới tên thương hiệu Nhật Bản. Điều này khiến các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc quảng bá thương hiệu và gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu tại thị trường Nhật Bản.
Theo ông, trước những thách thức trên, chúng ta cần có những giải pháp gì để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản, nhằm góp phần vào mục tiêu xuất khẩu chung của năm 2025 tăng 12% mà Chính phủ đã đề ra?
Để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm, hàng hóa Việt Nam và tăng trưởng xuất khẩu tại thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp xuất khẩu cần chú trọng xây dựng định hướng, kế hoạch kinh doanh bài bản, dài hạn đối với thị trường Nhật Bản. Đồng thời, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân nhân lực, đặc biệt ứng dụng công nghệ số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo đó, chú trọng nâng cấp quy trình sản xuất, công nghệ, cách thức quản lý, tiêu chuẩn lao động, điều kiện nhà xưởng để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, xã hội và môi trường đặt ra cho các sản phẩm và dịch vụ tại thị trường Nhật Bản, qua đó góp phần tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình.
Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại đối với thị trường Nhật Bản, tận dụng hỗ trợ của các bộ ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị xúc tiến thương mại của các bộ, ngành, địa phương. Trong đó, cần quan tâm việc tham dự các hội chợ, triển lãm quốc tế tổ chức tại Nhật Bản, bởi đây là cơ hội tốt nhất để giới thiệu sản phẩm, hàng hóa tới các đối tác tiềm năng.
Về phía Bộ Công Thương, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản và các đơn vị liên quan sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng hóa; hỗ trợ, cung cấp thông tin thị trường thường xuyên, kịp thời phục vụ nhu cầu tra cứu, tìm hiểu của doanh nghiệp…
VnEconomy 18/03/2025 10:45
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 11-2025 phát hành ngày 17/03/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam/detail/1308
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Về bản chất, y học tái tạo xoay quanh việc phục hồi hoặc thay thế các mô, cơ quan và tế bào bị tổn thương thông qua các phương pháp tiên tiến như liệu pháp tế bào gốc, kỹ thuật mô và chỉnh sửa gen. Lĩnh vực mang tính đột phá này có tiềm năng cách mạng hóa việc điều trị các bệnh mãn tính và chấn thương, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân trên toàn thế giới.
Trong tái cấu trúc doanh nghiệp, câu hỏi quan trọng nhất không phải là tài sản hiện tại đáng giá bao nhiêu, mà là doanh nghiệp còn khả năng tạo ra bao nhiêu dòng tiền trong tương lai. Tuy nhiên, giữa tổ chức tín dụng muốn thu hồi vốn nhanh và doanh nghiệp cần thời gian để xoay vòng vốn luôn tồn tại những “nút thắt” giằng co, khó xử lý. Vì vậy, vấn đề là làm thế nào để dung hòa xung đột này, tối đa hóa giá trị thu hồi và biến cơ chế phục hồi thành một thị trường hấp dẫn dòng vốn ngoại.
Ông Jeffrey Tchui, Giám đốc Điều hành kiêm Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Hashgraph, đơn vị phát triển và thúc đẩy Hedera, một trong những mạng sổ cái phân tán hàng đầu thế giới, đồng thời là Giám đốc Điều hành của Web3 Harbour, hiệp hội ngành Web3 hàng đầu Hồng Kông (Trung Quốc), trong cuộc trao đổi với a/b, đã chia sẻ quan điểm về định hướng phát triển thị trường tài sản thực được mã hóa (Real World Assets - RWA), đồng thời đưa ra nhiều gợi mở để Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực này.
Khi các định chế tài chính toàn cầu bắt đầu thử nghiệm đưa tài sản truyền thống lên blockchain, Việt Nam đứng trước cơ hội tham gia một xu hướng mới của thị trường vốn. Tuy nhiên, để mã hóa tài sản thực (RWA) phát triển bền vững, cần một chiến lược phù hợp ngay từ giai đoạn đầu...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Nhà ga T2 Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc đang bước vào giai đoạn hoàn thiện mặt ngoài với hơn 9.500 tấm kính Unitized. Toàn công trường huy động khoảng 6.500 kỹ sư, công nhân thi công ba ca, bốn kíp để hướng tới vận hành thử vào tháng 4/2027.