Ấn Độ đẩy mạnh đưa lao động ra nước ngoài để giảm áp lực việc làm trong nước

Khác với Trung Quốc muốn thu hút nhân tài về nước, Ấn Độ đang đẩy mạnh đưa lao động ra nước ngoài để giảm áp lực việc làm trong nước và tăng nguồn kiều hối...

Ảnh minh họa - Ảnh: Getty Images
Ảnh minh họa - Ảnh: Getty Images

Trong nhiều thỏa thuận thương mại gần đây với các đối tác từ châu Âu, New Zealand đến Nga và Trung Đông, Ấn Độ đều thúc đẩy các cam kết tạo thuận lợi cho lao động nước này sang làm việc.

Ấn Độ sở hữu lực lượng trong độ tuổi lao động thuộc hàng lớn nhất thế giới, nhưng nền kinh tế trong nước chưa tạo đủ việc làm, đặc biệt cho lao động có trình độ cao. Trong khi đó, sự phụ thuộc ngày càng lớn vào kiều hối khiến chính phủ nước này đẩy mạnh mở đường cho người dân ra nước ngoài làm việc.

Theo ông Jayant Krishna, chuyên gia cấp cao phụ trách kinh tế Ấn Độ và các nền kinh tế mới nổi châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), khác với Trung Quốc, cường quốc sản xuất có khả năng tạo việc làm trên quy mô lớn, Ấn Độ vẫn chưa giải quyết được “thách thức nghiêm trọng” khi tỷ lệ thất nghiệp liên tục dao động quanh mức 5-6%.

“Nếu tính cả những người không có đủ việc làm hoặc phải làm công việc không tương xứng với năng lực, tỷ lệ này sẽ tăng lên mức đáng báo động”, ông Krishna nói với kênh CNBC. Theo ông, đưa lao động có tay nghề và bán lành nghề ra nước ngoài giúp Ấn Độ giảm áp lực việc làm, đồng thời đáp ứng phần nào kỳ vọng của lực lượng trong độ tuổi lao động ngày càng đông.

Chính phủ Ấn Độ cũng ngày càng phụ thuộc vào nguồn tiền do người lao động ở nước ngoài gửi về. Theo giới chuyên gia, Ấn Độ hiện là nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới, với tổng giá trị tương đương khoảng 3% tổng sản phẩm trong nước (GDP).

LÀN SÓNG PHẢN ĐỐI

Tuy nhiên, nỗ lực mở rộng cơ hội làm việc ở nước ngoài cho lao động Ấn Độ đang vấp phải sự phản đối tại một số nước tiếp nhận, trong bối cảnh làn sóng chống nhập cư gia tăng trên toàn cầu.

Tại New Zealand, Thủ tướng Christopher Luxon tuần trước ca ngợi thỏa thuận thương mại tự do với Ấn Độ, trong đó có các điều khoản tạo điều kiện cho nhiều lao động Ấn Độ sang làm việc. Tuy nhiên, thỏa thuận vẫn phải chờ Quốc hội phê chuẩn và đang vấp phải sự phản đối mạnh mẽ ngay trong liên minh cầm quyền.

Bộ trưởng Ngoại giao New Zealand Winston Peters, lãnh đạo đảng New Zealand First, cho rằng thỏa thuận sẽ tạo ra các quy định nhập cư “chưa từng có tiền lệ”, đồng thời khiến người New Zealand khó tìm việc hơn.

Vài tháng trước, ông Shane Jones, Bộ trưởng Phát triển khu vực kiêm Bộ trưởng Tài nguyên, Phó lãnh đạo New Zealand First, cũng cảnh báo thỏa thuận có thể kéo theo làn sóng nhập cư ồ ạt từ Ấn Độ.

Tại Australia, chuyến thăm gần đây của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng làm bùng lên các cuộc biểu tình phản đối người Ấn Độ. Sự việc diễn ra trong bối cảnh số người nhập cư từ Ấn Độ vào Australia tăng nhanh.

Năm 2025, số người sinh tại Ấn Độ đang sinh sống ở Australia lần đầu vượt nhóm sinh tại Anh, trở thành cộng đồng cư dân sinh ở nước ngoài đông nhất tại Australia. Cục Thống kê Australia cho biết hai nhóm đều có khoảng 971.000 người.

Trong khi đó, Mỹ, một trong những điểm đến lớn nhất của lao động Ấn Độ, đang siết chặt quy định cấp thị thực, dù Washington và New Delhi vẫn đàm phán thỏa thuận thương mại. Động thái này càng khiến Ấn Độ có thêm lý do để ký các thỏa thuận về dịch chuyển lao động với Nga, Israel và Liên minh châu Âu (EU), sau thỏa thuận tương tự với Phần Lan hồi đầu năm.

Mỹ bắt đầu triển khai chương trình thị thực H-1B từ năm 1990, cho phép các doanh nghiệp tuyển lao động nước ngoài vào những vị trí đòi hỏi trình độ chuyên môn cao. Chương trình này được các tập đoàn công nghệ Mỹ sử dụng rộng rãi, trong đó công dân Ấn Độ chiếm phần lớn số người được cấp thị thực. Tuy nhiên, chính quyền Tổng thống Donald Trump đang tìm cách thu hẹp chương trình và hạn chế việc tuyển dụng lao động nước ngoài theo diện này.

Theo ông Ronak D. Desai, nhà nghiên cứu tại Viện Hoover thuộc Đại học Stanford, những thay đổi thất thường trong chính sách thị thực H-1B của Mỹ đã giúp Ấn Độ rút ra một bài học rằng không thể để cơ hội làm việc ở nước ngoài của người lao động bị chi phối hoàn toàn bởi tình hình chính trị nội bộ của một quốc gia khác.

“Cơ hội làm việc ở nước ngoài được bảo đảm bằng các hiệp định sẽ ổn định và bền vững hơn nhiều so với việc phụ thuộc vào chính sách thị thực do một quốc gia đơn phương quyết định”, ông Desai nhận xét với CNBC.

KHÁC BIỆT VỚI TRUNG QUỐC

Chính sách đẩy mạnh đưa lao động ra nước ngoài của Ấn Độ trái ngược với xu hướng tại Trung Quốc, quốc gia láng giềng cũng có dân số hơn 1 tỷ người. Trong thập kỷ qua, Trung Quốc chứng kiến làn sóng nhân tài trở về nước, một phần do căng thẳng địa chính trị khiến nhiều nhà khoa học Trung Quốc phải rời Mỹ.

Theo Viện Boym, những người từng học tập hoặc làm việc ở nước ngoài rồi trở về nước là “hải quy”. Giới chuyên gia cho rằng đội ngũ này đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của các ngành bán dẫn, công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo (AI) tại Trung Quốc. Bắc Kinh cũng xây dựng được nền tảng trong nước đủ sức tiếp nhận và phát huy năng lực của nguồn nhân lực trình độ cao này.

“Đội ngũ chuyên gia có trình độ cao và khả năng thích ứng với nhiều môi trường làm việc đã đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển công nghệ của Trung Quốc”, ông Rafiq Dossani, chuyên gia kinh tế cấp cao tại RAND Corporation, nhận định.

Theo ông Dossani, Bắc Kinh không chỉ đưa ra chính sách khuyến khích nhân tài trở về mà còn xây dựng cơ sở hạ tầng và môi trường làm việc cần thiết. Trong khi đó, Ấn Độ chưa tạo dựng được nền tảng đủ mạnh để thúc đẩy các công nghệ tiên tiến như AI.

Ấn Độ hiện chỉ dành khoảng 0,5% GDP cho nghiên cứu và phát triển, thấp hơn mức trung bình 1,7% của thế giới và kém xa mức hơn 3,5% tại Mỹ.

“Do trong nước chưa có những cơ hội tương xứng, Chính phủ Ấn Độ không coi tình trạng “chảy máu chất xám” là mối lo ngại lớn”, ông Pramit Chaudhuri, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu Nam Á tại Eurasia Group, chỉ ra.

Theo ông Chaudhuri, thay vì tìm cách ngăn chặn, New Delhi đang chủ động khuyến khích người lao động tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài.

Trung Quốc: "Vạn lý Trường thành Xanh" và cuộc chiến chống sa mạc hóa vẫn còn dài

Sau gần nửa thế kỷ triển khai Chương trình Rừng phòng hộ Tam Bắc, Trung Quốc đã từng bước đẩy lùi tình trạng sa mạc hóa trên diện rộng, đưa màu xanh trở lại nhiều vùng đất khô cằn. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, những thành quả này vẫn rất mong manh nếu thiếu sự đầu tư, quản lý và cam kết lâu dài trong bối cảnh biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến phức tạp...

Sầu riêng dư thừa, Malaysia tính mở tuyến đường bộ sang Trung Quốc để "giải cứu" thị trường

Sản lượng sầu riêng tăng mạnh khiến Malaysia đối mặt với tình trạng dư cung nghiêm trọng. Trong bối cảnh xuất khẩu bằng đường hàng không không còn đáp ứng nhu cầu, nước này đang thúc đẩy mở tuyến vận tải đường bộ sang Trung Quốc nhằm giảm chi phí logistics và mở rộng thị trường tiêu thụ…

Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy