Chia sẻ tại hội thảo “Thúc đẩy huy động vốn phát triển hạ tầng Việt Nam qua Thị trường Trái phiếu: Các cấu trúc vốn và xu hướng đầu tư bền vững” do VIS Rating, Quỹ Bảo lãnh Tín dụng và Đầu tư (CGIF) và Moody's Ratings đồng tổ chức ngày 20/8, các chuyên gia đều cho rằng Việt Nam đang đối mặt với một áp lực lớn về thời gian khi khối lượng đầu tư cơ sở hạ tầng khổng lồ bị nén lại chỉ trong vòng 5 năm tới.
Từ năm 2026 đến 2030, Việt Nam cần khoảng 450 tỷ USD cho hạ tầng, trong đó dự kiến 150 tỷ USD đến từ khu vực tư nhân. Đặc biệt, thị trường vốn sẽ phải gánh vác trọng trách huy động từ 20 đến 25 tỷ USD. Đây là một thách thức rất lớn nếu so với 5 năm trước đó (2021 - 2025), tổng nguồn vốn huy động cho hạ tầng qua phát hành trái phiếu và vốn cổ phần chỉ vỏn vẹn 3,9 tỷ USD.
Theo ông Trần Lê Minh, Tổng Giám đốc VIS Rating, gánh nặng huy động vốn sắp tới sẽ đặt lên vai thị trường trái phiếu doanh nghiệp khi mà tín dụng ngân hàng đã chạm sát mức trần. Do vậy, việc tiếp tục đẩy mạnh tín dụng qua kênh này sẽ ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.
Áp lực này cũng được ông Đỗ Lê Thành Đạt, Phó Giám đốc - Chuyên gia Phân tích Cấp cao tại VIS Rating, nhấn mạnh. Bởi khác với Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia hay Indonesia vốn có từ 10 đến 15 năm để xây dựng hạ tầng dựa vào hệ thống ngân hàng, Việt Nam phải triển khai mọi thứ đồng thời và ở khắp mọi nơi.
Trong khi đó, hệ thống tín dụng Việt Nam đang có sự bất cân đối. Các dự án hạ tầng thường kéo dài từ 20 đến 30 năm, trong khi nguồn vốn dài hạn của ngân hàng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Việc huy động vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Hơn nữa, thị trường còn đối mặt với rủi ro tập trung khi chỉ quanh quẩn với một nhóm ngân hàng, nhà tài trợ và nhà thầu quen thuộc.
Nguồn vốn trong nước cũng như quốc tế luôn hiện hữu, nhưng trong suốt thời gian qua, các dự án hạ tầng dường như chưa có cách nào để huy động vốn một cách hợp lý.
Thông qua nghiên cứu các dự án trong quá khứ, đại diện VIS Rating đã chỉ ra 4 rủi ro cơ cấu khiến các nhà đầu tư phải định giá hạ tầng Việt Nam là tài sản rủi ro thay vì tài sản an toàn.
Một là rủi ro giải phóng mặt bằng. Có tới 56% các dự án công bị chậm tiến độ xuất phát từ vấn đề giải phóng mặt bằng, buộc các nhà đầu tư phải tự khấu trừ thời gian và tiến độ khi rót vốn.
Hai là rủi ro đội vốn. Nhiều dự án ghi nhận mức đội vốn lên gấp đôi, điển hình như các tuyến metro sử dụng trái phiếu đã phải tiến hành đảo nợ để tiếp tục thi công.
Ba là rủi ro bao tiêu. Các dự án tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc chốt giá, ví dụ như các thỏa thuận mua bán điện (PPA).
Bốn là rủi ro về nhu cầu. Thực tế cho thấy 40% các dự án BOT thu phí đường bộ bị hụt thu lên đến 40% do các dự báo ban đầu được đặt ra quá cao.
Hệ quả của những rủi ro này phản ánh ngay lập tức trên thị trường. Sau sự bùng nổ của ngành năng lượng tái tạo vào năm 2021, những rủi ro kể trên đã ập đến khiến thị phần phát hành trái phiếu ngành điện sụt giảm mạnh, chỉ còn 24% vào năm 2022 và dự kiến chỉ còn 11% vào cuối năm 2025 so với thị trường chung.
Bên cạnh rủi ro dự án, khung pháp lý hiện tại cũng chưa thực sự tạo động lực cho các nhà phát hành. Khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp dự án phải liên tục trả lãi trong suốt 5 đến 11 năm xây dựng dù chưa hề có nguồn thu. Chính những rào cản này khiến các công ty dự án cuối cùng vẫn phải quay lại sử dụng vốn vay ngân hàng.
Thị trường vốn Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý lớn. Đó là Việt Nam có nguồn tiền dài hạn từ các quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí tự nguyện hoặc các công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, nhóm đầu tư này lại không được phép mua trái phiếu hạ tầng với quy mô lớn do những ràng buộc pháp lý và tính chất bảo thủ, ngưỡng chấp nhận rủi ro cực kỳ thấp của nguồn vốn hưu trí.
Để khai thông bế tắc, ông Đạt cho rằng cần phải thay đổi rủi ro để dòng tiền này tới được nơi cần tới. Theo đó, công cụ then chốt để thực hiện điều này chính là các cơ chế bảo lãnh. Mục đích của bảo lãnh không nhất thiết là để đạt định mức tín nhiệm cao nhất, mà là để giảm thiểu rủi ro, biến trái phiếu hạ tầng thành một sản phẩm có thể đầu tư được đối với các quỹ hưu trí và bảo hiểm.
Ông Đạt cũng gợi ý việc sử dụng bảo lãnh một phần thay vì bảo lãnh toàn phần để không làm “phình to” bảng cân đối kế toán của bên bảo lãnh, từ đó giúp mở rộng quy mô thị trường.
Ngoài ra, các công cụ như bảo hiểm rủi ro một phần cũng có thể áp dụng để bảo vệ bên phát hành trước những rủi ro liên quan đến chính sách của nhà nước, đặc biệt hữu ích trong giai đoạn thỏa thuận mua bán điện của các dự án năng lượng tái tạo.
Đồng quan điểm về vấn đề này, bà Noriko Nasu, Giám đốc điều hành của CGIF, nhấn mạnh tầm quan trọng của các định chế tài trợ. Bà chia sẻ, trong cơ chế tăng cường chất lượng tín dụng do CGIF bảo lãnh, chúng ta có thể giảm thiểu rủi ro, mở đường cho các quỹ đầu tư và quỹ hưu trí tham gia cung ứng vốn dài hạn. Tại Việt Nam, CGIF đã bước đầu thành công trong việc bảo lãnh các đợt phát hành trái phiếu nội tệ cho các dự án hạ tầng số và y tế.
Bên cạnh đó, việc xếp hạng tín nhiệm cho các dự án hạ tầng cũng đòi hỏi sự linh hoạt. Do dự án PPP thường chỉ có một tài sản và một dòng tiền duy nhất, nên cần kết hợp phương pháp đánh giá huy động vốn dự án (trong giai đoạn xây dựng và vận hành) với phương pháp đánh giá tổ chức tài chính đối với bên chủ trì và bảo trợ dự án để đưa ra một định mức tín nhiệm phản ánh đúng mức độ rủi ro cho thị trường.
Nghị định 349/2026/NĐ-CP nâng hạn mức chỉ định thầu đối với một số gói thầu, tăng giá trị mua sắm nhỏ được tự quyết định từ 50 triệu lên 100 triệu đồng và bổ sung cơ chế xử lý một số tình huống trong đấu thầu...
Bộ Xây dựng đề xuất 6 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược cho đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị, tập trung vào ray, nền đường, 5G, tín hiệu và các cấu phần cốt lõi của phương tiện...
Việt Nam đang đứng trước cơ hội để định hình lại nền kinh tế thông qua việc xây dựng thị trường carbon trong nước và hội nhập quốc tế. Với mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, thị trường tín chỉ carbon không chỉ là một công cụ bảo vệ môi trường mà còn là chìa khóa thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp…
TP. Hồ Chí Minh đang nghiên cứu bổ sung Vành đai 4,5 và Vành đai 5 với tổng chiều dài khoảng 632 - 679 km, qua đó mở thêm các trục giao thông kết nối Thành phố với các địa phương Đông Nam Bộ, đồng thời tăng liên kết với khu vực Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ...
Cùng với việc số hóa 100% thủ tục có thể tiếp nhận, giải quyết trên không gian mạng, Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng (DSEZA) đang tiếp tục đẩy nhanh phát triển hạ tầng các khu chức năng, tạo nền tảng thu hút các doanh nghiệp triển khai đầu tư những dự án quy mô lớn, công nghệ cao trên địa bàn thành phố...
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Khối doanh nghiệp FDI chiếm tới 80,1% giá trị xuất khẩu hàng hóa trong 8 tháng qua. Theo chuyên gia, con số này thể hiện doanh nghiệp Việt Nam đang càng ngày càng khó khăn hơn khi tham gia vào thị trường quốc tế. Thậm chí, dường như còn tạo thành hai nền kinh tế độc lập.