Bước tiến mới trong bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam với OECMs
NNgô Anh Văn
Chọn cỡ chữ
Trước bối cảnh toàn cầu đang phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng của đa dạng sinh học, việc tìm kiếm các giải pháp bảo tồn hiệu quả trở thành một yêu cầu cấp thiết...
Toàn cảnh hội thảo về công nhận và quản lý các Khu vực có các biện pháp bảo tồn hiệu quả khác ngoài khu bảo tồn (OECMs) và đề xuất áp dụng tại Việt Nam. Ảnh: Ngô Anh Văn
Ngày 29/06, Cục Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Tổ chức quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (WWF-Việt Nam) tổ chức hội thảo quốc tế (trực tiếp và trực tuyến), nhằm chia sẻ kinh nghiệm về công nhận và quản lý các Khu vực có các biện pháp bảo tồn hiệu quả khác ngoài khu bảo tồn (OECMs) và đề xuất áp dụng tại Việt Nam.
Hội thảo tạo diễn đàn để trao đổi kinh nghiệm quốc tế về việc làm thế nào để xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhằm đánh giá, công nhận và áp dụng OECMs tại Việt Nam một cách hiệu quả. Kết quả thảo luận của Hội thảo cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng, góp phần hỗ trợ Việt Nam từng bước hoàn thiện cách tiếp cận và thúc đẩy triển khai giải pháp phù hợp với điều kiện quốc gia.
OECMs: GIẢI PHÁP CẤP THIẾT CHO BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH
HỌC
Phát biểu tại hội thảo, ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, cho biết Việt Nam ngoài việc thiết lập hệ thống các khu bảo tồn biển, rừng ngập mặn là rừng đặc dụng và khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, còn có nhiều khu vực khác có thể áp dụng các biện pháp bảo tồn phù hợp.
Theo ông Nghĩa, những biện pháp này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kết hợp hòa giữa phát triển kinh tế, ổn định đời sống cho người dân và bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học.
Ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, cho biết hội thảo có ý nghĩa quan trọng, là cơ hội để cùng chia sẻ kiến thức, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn và học hỏi các bài học quốc tế, đặc biệt từ những quốc gia đã thực hiện tốt các giải pháp quản lý các khu vực ngoài khu bảo tồn. Ảnh: Ngô Anh Văn.
Trong bối cảnh Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh - Montreal (KM-GBF) kêu gọi bảo tồn ít nhất 30% diện tích đất liền và biển của Trái Đất trước năm 2030, OECMs nổi lên như một giải pháp bổ sung quan trọng. Hệ thống các khu bảo tồn truyền thống không thể đáp ứng đủ phạm vi không gian cần thiết. Do đó, OECMs – các khu vực nằm ngoài khu bảo tồn nhưng được quản lý mang lại kết quả tích cực, bền vững cho tự nhiên – chính là mảnh ghép bổ sung đáng tin cậy nhất.
Tại Việt Nam, áp
lực lên đa dạng sinh học ngày càng gia tăng do đô thị hóa và biến đổi khí hậu. Thực tế hiện nay, 178 khu bảo tồn thiên nhiên của cả nước chỉ bao phủ khoảng 7% diện
tích đất liền và 2,6% diện tích biển, còn cách khá xa mục tiêu
"30x30".
Việc thúc đẩy áp dụng OECMs sẽ góp phần mở rộng không gian
bảo tồn, bảo vệ các khu vực có giá trị đa dạng sinh học ngoài hệ thống khu bảo
tồn, đồng thời tạo cơ hội để cộng đồng tham gia quản lý và phát triển các mô hình kinh tế xanh, du lịch sinh thái.
Chia sẻ vấn đề này, ông Văn Ngọc Thịnh, Tổng Giám đốc WWF-Việt Nam, thông tin: qua quá trình đồng
hành cùng các đối tác tại Việt Nam, đặc biệt ở khu vực Trung Trường Sơn, WWF-Việt
Nam nhận thấy rằng bảo tồn sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi các khu bảo tồn được kết
nối với những khu vực tự nhiên có giá trị đa dạng sinh học đang được quản lý tốt
bởi nhiều chủ thể khác nhau.
Theo kinh nghiệm đó, chúng tôi tin rằng OECMs là một cách tiếp cận quan trọng để mở rộng hiệu quả bảo tồn ở quy mô cảnh quan, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia và quốc tế về đa dạng sinh học".
“Với
nền tảng chính sách đã được hình thành, sự quan tâm của các cơ quan quản lý,
các địa phương và sự đồng hành của nhiều đối tác, chúng tôi tin rằng đây là thời điểm rất
thuận lợi để Việt Nam từng bước đưa OECMs vào thực tiễn”, ông Thịnh nhấn mạnh.
ĐÀ NẴNG - ĐIỂM SÁNG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Là địa phương có nhiều khu vực OECMs tiềm
năng, bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc
Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng, cho biết Đà Nẵng, không
chỉ là một đô thị biển năng động, mà còn sở hữu một cấu trúc sinh thái đặc biệt
phong phú. Thành phố trải dài từ rừng nguyên sinh Trung Trường Sơn, các lưu vực
sông, vùng đất ngập nước, cửa sông đến vùng biển ven bờ và hải đảo.
Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố nhận định rằng Đà Nẵng là một địa phương rất phù hợp với cách tiếp cận OECMs. Thành phố này sở hữu những lợi thế nổi bật về hệ sinh thái đa dạng, bao gồm rừng, biển, sông và đô thị. Đặc biệt, các cộng đồng địa phương tại đây không chỉ có tri thức bản địa phong phú mà còn có sinh kế gắn liền với tài nguyên thiên nhiên, tạo ra cơ hội lớn cho việc phát triển bền vững và bảo tồn môi trường.
Bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng
"Với những lợi thế đặc biệt về sinh thái và sự tham gia tích cực của cộng đồng, Đà Nẵng có thể trở thành điểm sáng trong việc áp dụng OECMs, hướng tới một mô hình phát triển bền vững, trong đó bảo tồn không đối lập với phát triển, cộng đồng không đứng ngoài quản trị, và thiên nhiên không phải là phần còn lại sau tăng trưởng."
"Nếu tổ chức tốt cơ chế đồng quản lý và chia sẻ
lợi ích, bảo tồn có thể trở thành một trụ cột của phát triển xanh, kinh tế sinh
thái và du lịch bền vững, thay vì chỉ được nhìn nhận như một nhiệm vụ bảo vệ
tài nguyên đơn thuần", bà Hậu nhấn mạnh.
Đà Nẵng có thể chủ động chuẩn bị trước các yếu tố quan trọng như dữ liệu, bản đồ, hiện trạng quản lý, các chủ thể quản trị, giá trị đa dạng sinh học và mức độ tham gia của cộng đồng. Điều này sẽ giúp thành phố nhanh chóng đề xuất các mô hình thí điểm phù hợp khi Trung ương ban hành hướng dẫn về OECMs.
Đáng chú ý, trong chuyến
khảo sát thực địa ngày 28/6 vừa qua, đã ghi nhận những điểm đáng chú ý từ
sinh cảnh của loài Chà vá chân xám được cộng đồng gìn giữ tại Tú Mỹ, cho đến hoạt
động đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại rạn Bà Đậu. Mỗi điểm đến đều cho thấy
một thực tế sinh động: bảo tồn thiên nhiên chỉ thực sự bền vững khi được gắn
với trách nhiệm, sinh kế và sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương.
Từ thực tế đó, bà
Hậu mong rằng trong thời gian lưu lại Đà Nẵng, các đại biểu trong nước và quốc
tế sẽ cảm nhận được không chỉ vẻ đẹp của một thành phố bên sông, bên biển, mà
còn là chiều sâu của một không gian sinh thái liên hoàn từ rừng Trung Trường
Sơn đến sông, cửa biển và hải đảo; cùng sự chân thành, cởi mở và hiếu khách của
người dân thành phố.
HƯỚNG TỚI MỘT TƯƠNG LAI BỀN VỮNG
Hiện tại, Đà Nẵng
có 7 khu bảo tồn thiên nhiên, 2 khu bảo vệ cảnh quan cùng nhiều khu vực có giá
trị đa dạng sinh học quan trọng ngoài hệ thống khu bảo tồn chính thức. Những
giá trị đó không chỉ được đo bằng diện tích rừng, số lượng loài hay vẻ đẹp cảnh
quan, mà còn ở khả năng duy trì nguồn nước, điều hòa khí hậu, bảo vệ bờ biển,
giảm thiểu rủi ro thiên tai, tạo sinh kế và nâng cao chất lượng sống của người
dân.
Với những lợi thế trên, bà Hậu nhấn mạnh quan điểm của Đà Nẵng bảo tồn thiên nhiên không
phải phần việc đứng ngoài quá trình phát triển mà là một cấu
phần của hạ tầng phát triển bền vững.
"Nếu hạ tầng kỹ thuật tạo ra kết nối cho
nền kinh tế, thì hạ tầng sinh thái tạo ra sức chống chịu và duy trì những điều
kiện căn bản cho sự phát triển lâu dài. Đầu tư cho bảo tồn, do đó, không phải
là chi phí làm chậm phát triển mà là đầu tư để giảm rủi ro, bảo vệ nguồn lực
và nâng cao chất lượng tăng trưởng", bà Hậu nêu rõ.
Đối với Đà Nẵng, hội thảo về OECMs và đề xuất áp dụng tại Việt Nam, không chỉ là một sự kiện chuyên môn, đây còn là dịp để thành phố nhìn nhận rõ hơn một vấn đề có tính chiến lược trong tiến trình phát triển mới.
Thực tiễn cho
thấy, Đà Nẵng nói riêng và nhiều tỉnh, thành cả nước nói chung, bên cạnh các
khu bảo tồn đã được thành lập theo quy định, còn nhiều khu vực có giá trị đa dạng
sinh học đang được cộng đồng, chính quyền cơ sở, các tổ chức xã hội và những chủ
thể khác gìn giữ khá hiệu quả.
Hội thảo quốc tế
về OECMs tại Đà Nẵng không chỉ là cơ hội để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm từ các
quốc gia khác mà còn thể hiện quyết tâm của nhà nước trong việc khẩn trương tháo
gỡ các rào cản để OECMs có thể thực sự phát huy hiệu quả. Với sự đồng hành của
các cơ quan quản lý, địa phương và đối tác quốc tế, Việt Nam đang từng bước đưa
OECMs vào thực tiễn, góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia và quốc tế về đa
dạng sinh học.
Trong nỗ lực hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Việt Nam đang tìm kiếm các kênh huy động tài chính hiệu quả cho giảm phát thải. Trong đó, cơ chế chuyển giao kết quả giảm phát thải được quốc tế công nhận (ITMO) theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris được kỳ vọng trở thành “đòn bẩy”, giúp kết nối nguồn vốn quốc tế và khu vực tư nhân với các dự án khí hậu trong nước...
Báo cáo dự báo El Niño 2026–2027 đưa ra 2 kịch bản rủi ro khí tượng thủy văn do El Niño tại Việt Nam; đồng thời lượng hóa và nhận định rủi ro trực tiếp đối với nền kinh tế: từ an ninh nguồn nước, sản xuất nông nghiệp đến an ninh năng lượng…
Thỏa thuận hạt nhân dân sự vừa được Mỹ và Saudi Arabia ký kết đánh dấu bước tiến lớn trong quan hệ năng lượng giữa hai nước, đồng thời làm dấy lên những tranh cãi về nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân và một cuộc chạy đua vũ trang mới tại Trung Đông...
Biến đổi khí hậu đang khiến cháy rừng xảy ra thường xuyên và dữ dội hơn, kéo theo những đám khói độc lan xa hàng nghìn km. Các nghiên cứu mới cho thấy khói cháy rừng không chỉ gây ô nhiễm không khí mà còn làm gia tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh nguy hiểm và tử vong sớm…
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số và đón làn sóng FDI công nghệ cao, khu công nghiệp không còn chỉ là nơi cung cấp mặt bằng sản xuất. Từ hạ tầng xanh, chuyển đổi số, hệ sinh thái dịch vụ đến chất lượng môi trường đầu tư, các tiêu chí cạnh tranh đang thay đổi, đòi hỏi khu công nghiệp phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) kết hợp với mạng lưới đường sắt đô thị (metro) là chiến lược cốt lõi để giải quyết ùn tắc và tái cấu trúc không gian. Mô hình này tập...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...