Theo Nghị định (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026), Chiến lược phát
triển vật liệu xây dựng là căn cứ để cơ quan nhà nước quản lý, điều hành phát
triển vật liệu xây dựng, xây dựng các nội dung liên quan đến vật liệu xây dựng
trong quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
Đồng thời, đây cũng là căn cứ để tổ chức, cá nhân định hướng đầu tư, sản xuất,
sử dụng vật liệu xây dựng đảm bảo hiệu quả, bền vững, bảo vệ môi trường, sử dụng
hợp lý tài nguyên, đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng trong nước và xuất khẩu.
Thời kỳ lập chiến lược phát triển
vật liệu xây dựng là 10 năm, tầm nhìn 30 năm. Chiến lược được rà soát, điều chỉnh
5 năm một lần (hoặc đột xuất theo yêu cầu) để bảo đảm cân đối cung - cầu, ổn định
thị trường, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, biến đổi khí hậu.
Liên quan đến cấp địa phương, Nghị
định quy định UBND cấp tỉnh tổ chức lập, điều chỉnh và phê duyệt kế hoạch phát
triển vật liệu xây dựng tại địa phương.
Kế hoạch phát triển vật liệu xây
dựng bao gồm các nội dung cụ thể hóa chiến lược phát triển vật liệu xây dựng,
là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương quản lý phát triển vật
liệu xây dựng, xây dựng phương án bảo vệ, khai thác, sử dụng khoáng sản làm vật
liệu xây dựng trong quy hoạch tỉnh; đồng thời là căn cứ để tổ chức, cá nhân định
hướng đầu tư, sản xuất, sử dụng vật liệu xây dựng, bảo đảm hiệu quả, bền vững,
bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên, đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng
trong nước và xuất khẩu.
Kế hoạch phát triển vật liệu xây
dựng tại địa phương phải phù hợp với chiến lược phát triển vật liệu xây dựng,
quy hoạch tỉnh và các quy hoạch ngành có liên quan. Kế hoạch được lập cho thời
kỳ 5 năm, định hướng 10 năm và được phê duyệt trước ngày 31/3 của năm đầu kỳ kế
hoạch; đồng thời được rà soát, điều chỉnh để bảo đảm cân đối cung - cầu, ổn định
thị trường, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, biến đổi khí hậu của địa phương.
Theo Nghị định, hoạt động khai
thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng thực hiện
theo quy định của pháp luật về địa chất và khoáng sản và pháp luật khác có liên
quan.
Việc quy hoạch, khai thác, chế biến,
sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục
đích, đáp ứng nhu cầu phát triển, sản xuất vật liệu xây dựng; bảo đảm cân đối
cung - cầu, ổn định thị trường vật liệu xây dựng. Khuyến khích đổi mới công nghệ,
chế biến sâu, nâng cao giá trị khoáng sản, giảm thất thoát tài nguyên, gắn với
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Khuyến khích tận dụng đất, đá thải,
phế thải phát sinh trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu
xây dựng để sản xuất vật liệu xây dựng hoặc sử dụng trong công trình xây dựng.
Việc sử dụng đất, đá thải, phế thải phải được phân loại, đánh giá chất lượng, mức
độ an toàn và đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật và chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Nghị định nêu rõ nhà nước có cơ
chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với hoạt động nghiên cứu, đầu tư phát
triển và sử dụng vật liệu xây dựng mới, vật liệu tái chế, vật liệu xanh, vật liệu
nhẹ, vật liệu thông minh, vật liệu xây dựng thân thiện môi trường, vật liệu phù
hợp vùng ven biển, hải đảo, bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ quốc phòng,
an ninh.
Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động
nghiên cứu, đầu tư phát triển và sử dụng các loại vật liệu xây dựng nêu trên được
xem xét áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi về tín dụng và tiếp cận các nguồn
vốn hợp pháp theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng, pháp luật về
bảo vệ môi trường; hỗ trợ lãi suất và các hình thức hỗ trợ khác theo quy định của
pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về ngân sách
nhà nước, pháp luật về đầu tư công; ưu đãi, hỗ trợ về đất đai theo quy định của
pháp luật về đất đai, pháp luật về đầu tư và các cơ chế, chính sách ưu đãi khác
theo quy định của pháp luật có liên quan.