Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP), trong điều kiện áp dụng Chỉ thị 16 tại TP. Hồ Chí Minh và 19 tỉnh thành phía Nam, khiến sản xuất và xuất khẩu thủy sản thủy sản sụt giảm đáng kể nhất từ nửa cuối tháng 7/2021. Tuy nhiên, nhờ tăng trưởng cao trong nửa đầu năm nên lũy kế xuất khẩu thủy sản 7 tháng đầu năm vẫn tăng 11%, đạt 4,88 tỷ USD.
Trước đó, tính trong nửa đầu năm 2021, xuất khẩu thủy sản của cả nước vẫn đạt tăng trưởng 15% so với cùng kỳ năm ngoái, mang lại giá trị 4,1 tỷ USD nhờ doanh nghiệp thủy sản nỗ lực và linh hoạt để ổn định sản xuất, duy trì nguồn cung, tận dụng cơ hội của các thị trường.
Xét theo từng nhóm sản phẩm, xuất khẩu tôm trong tháng 7 chỉ đạt 374 triệu USD, sụt giảm 4% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng, xuất khẩu tôm vẫn giữ tăng trưởng 10% với 2,1 tỷ USD, chiếm 43% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành thủy sản.
Xuất khẩu cá tra và cá ngừ trong tháng 7 giảm khoảng 5%; đạt tương ứng 117 triệu USD và 60,5 triệu USD. Tính đến hết tháng 7/2021, xuất khẩu cá tra đạt 898 triệu USD, tăng 13%; xuất khẩu cá ngừ đạt 416 triệu USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2020.
Xuất khẩu mực, bạch tuộc đạt 47 triệu USD trong tháng 7/2021 giảm 9% so với tháng 7/2020. Lũy kế 7 tháng, xuất khẩu mực và bạch tuộc đạt 314 triệu USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu các mặt hàng khác đều giảm, trong đó cua ghẹ giảm 3% và các loại cá khác giảm 2% trong tháng 7/2021.
VASEP cho biết áp dụng Chỉ thị 16 tại TP.HCM và 19 tỉnh thành phía Nam theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hầu hết các tỉnh thành đã yêu cầu các doanh nghiệp chỉ được duy trì hoạt động khi đảm bảo điều kiện “3 tại chỗ” hoặc “1 cung đường – 2 địa điểm” để phòng, chống dịch bệnh lây lan vào các nhà máy, các khu công nghiệp.
Thực hiện Chỉ thị 16, các doanh nghiệp chế biến thủy sản đã chung tay sát cánh cùng Chính phủ thực hiện nghiêm các quy định nhằm vừa chống dịch vừa duy trì được sản xuất.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay chỉ có khoảng 30% các doanh nghiệp thủy sản tại các tỉnh thành phía Nam đảm bảo được điều kiện “3 tại chỗ”. Với những nhà máy thực hiện được, thì số lượng công nhân có thể huy động cũng chỉ 30-50% , số còn lại phải nghỉ việc hoặc nghỉ không lương. Công suất sản xuất trung bình đã giảm chỉ còn 40-50% so với trước đây. Dự tính công suất chung của cả vùng giảm chỉ còn 30-40%.
Trong khi đó, nguyên liệu thủy sản huy động cho chế biến, xuất khẩu cũng chỉ đạt khoảng 40-50% so với trước đây, do việc thực hiện giãn cách chung. Dự tính nguy cơ nguồn nguyên liệu cho sản xuất xuất khẩu những tháng cuối năm sẽ thiếu hụt 20-30%.
Ngoài ra, cùng với các chi phí đầu vào và logistic tăng mạnh, doanh nghiệp cũng đang phải chịu "gánh nặng" bởi các loại chi phí phát sinh do Covid-19 như trang bị cho công nhân làm việc 3 tại chỗ, trả thêm lương, chi phí xét nghiệm hàng tuần...
Với thực tế khó khăn hiện nay, VASEP cho rằng, xuất khẩu thủy sản nửa cuối năm chắc chắn sẽ tuột dốc, nếu không có giải pháp hỗ trợ cần thiết cho việc phục hồi sản xuất, xuất khẩu và trực tiếp thúc đẩy sinh kế cho công nhân, nông-ngư dân trong bối cảnh sống chung với dịch bệnh Covid-19.
Trong đó, có việc cần triển khai sớm là ưu tiên tiêm vaccin cho người lao động trong nhà máy chế biến thủy sản đảm bảo tiêu chí an toàn, tiếp đó là sự hỗ trợ cho doanh nghiệp và người lao động bị ảnh hưởng bởi Covid-19.
Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.