
Việt Nam hiện đang trong giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng. Theo đó, cả Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quy hoạch điện 8 (điều chỉnh) đều nhấn mạnh rõ định hướng: đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, theo các chuyên gia tại tọa đàm “Năng lượng sản xuất tại Việt Nam” được phối hợp tổ chức bởi Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) và Nhóm Công tác Điện và Năng lượng (PEWG) thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) vào ngày 18/6, Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư, không chỉ từ khu vực trong nước mà còn từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu phát triển đầy tham vọng đối với năng lượng tái tạo, nhằm vừa đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, vừa hiện thực hóa cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Điển hình là quy hoạch điện 8 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, tổng công suất điện gió trên bờ và gần bờ đạt 26.066 - 38.029 MW. Tổng công suất điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu điện trong nước đạt khoảng 6.000 - 17.032 MW trong giai đoạn 2030 - 2035. Định hướng đến năm 2050 đạt 113.503 - 139.097 MW.
Bên cạnh đó, đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện mặt trời (gồm điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà) đạt 46.459 - 73.416 MW; định hướng đến năm 2050, tổng công suất 293.088 - 295.646 MW.
Để hiện thực hóa những mục tiêu đầy tham vọng này, bà Đỗ Hồng Thanh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Năng lượng và Phát triển thị trường điện lực, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương, một điều kiện tiên quyết được đặt ra là phải huy động được nguồn lực đầu tư lớn, đặc biệt từ khu vực tư nhân và các nhà đầu tư quốc tế.
Đặc biệt là khi nhu cầu vốn đầu tư cho cả nguồn điện và lưới truyền tải trong giai đoạn 2026 - 2030 lên tới 136,3 tỷ USD. Trong giai đoạn 2031 - 2035, nhu cầu vốn khoảng 130 tỷ USD, và từ năm 2036 đến 2050, con số này có thể tăng vọt lên 569 tỷ USD.
“Với nhu cầu vốn khổng lồ như vậy, Việt Nam buộc phải đẩy mạnh thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân và quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh cả Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới đang theo đuổi xu thế phát triển năng lượng sạch và bền vững”, bà Thanh bày tỏ.
Không những vậy, việc đầu tư vào năng lượng tái tạo cũng đem đến nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định tác động tích cực của đầu tư vào năng lượng tái tạo đối với tăng trưởng kinh tế.
Theo Viện nghiên cứu Chính sách và Chiến lượng (CIEM), nếu Việt Nam nâng tỷ lệ đầu tư công và tư vào năng lượng tái tạo lên khoảng 5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, GDP mỗi năm có thể tăng thêm từ 0,7% đến 1,1% so với kịch bản thông thường (Business As Usual - BAU).
Tương tự, theo phân tích của McKinsey & Company, nếu Việt Nam duy trì mức đầu tư trung bình 15 tỷ USD mỗi năm cho năng lượng tái tạo trong giai đoạn 2025 - 2040 (tương đương khoảng 4% GDP), thì GDP năm 2040 có thể cao hơn 6% - 10% so với kịch bản thông thường.
Từ những con số này, GS.TS Đinh Đức Trường, Trưởng khoa Môi trường, Biến đổi khí hậu & Đô thị, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), cho biết việc tăng cường đầu tư vào năng lượng tái tạo không chỉ thúc đẩy tăng trưởng GDP mà còn góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững.
“Kinh tế Việt Nam có thể chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào thương mại sang mô hình dựa trên đầu tư công và tư nhân, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn quốc tế vào lĩnh vực năng lượng sạch”, ông Trường nhấn mạnh.
Mặc dù sở hữu tiềm năng lớn trong phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là từ khu vực tư nhân và nhà đầu tư quốc tế.
Theo TS. Đinh Tuấn Minh, Giám đốc Trung tâm Giải pháp thị trường cho các vấn đề Kinh tế và Xã hội, một trong những trở ngại lớn là khung pháp lý và chính sách hiện hành vẫn còn thiếu nhất quán, ổn định và minh bạch. Thêm vào đó, thủ tục hành chính phức tạp, hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ, cùng với quy mô thị trường vốn nội địa còn hạn chế đang làm suy giảm sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư chiến lược.
Để có thể hiện thực hóa các mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam cần xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện môi trường đầu tư, đặc biệt là tạo điều kiện để thu hút dòng vốn dài hạn quy mô lớn từ khu vực nước ngoài. Điều này càng trở nên cấp thiết khi nhiều doanh nghiệp trong nước còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn lớn và dài hạn phục vụ cho các dự án điện tái tạo.
Thứ nhất, Việt Nam đã chuyển từ cơ chế giá cố định (FiT) sang cơ chế đấu thầu cạnh tranh, nhưng lại chưa ban hành các hướng dẫn chi tiết và khung pháp lý cụ thể. Sự thiếu rõ ràng này khiến niềm tin của nhà đầu tư bị suy giảm. Do đó, cần sớm hoàn thiện một khung pháp lý ổn định, minh bạch nhằm khơi thông dòng vốn FDI vào lĩnh vực năng lượng sạch.
Thứ hai, cần đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống truyền tải điện quốc gia. Hệ thống hiện tại chưa đáp ứng được tốc độ tăng trưởng công suất từ các nguồn năng lượng tái tạo, dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ và lãng phí nguồn lực.
Thứ ba, thúc đẩy thu hút FDI chất lượng cao thông qua cơ chế khuyến khích thiết thực. Việt Nam nên ưu tiên các nhà đầu tư có năng lực tài chính mạnh và công nghệ hiện đại; hỗ trợ tài chính ban đầu cho các dự án điện gió ngoài khơi; đồng thời, khuyến khích chuyển giao công nghệ và tăng cường đối thoại công - tư để xây dựng niềm tin lâu dài cho các nhà đầu tư.
Thứ tư, phát triển công nghiệp phụ trợ và nâng cao năng lực nội địa là yếu tố quan trọng để tạo sức bật cho ngành năng lượng tái tạo. Cần chú trọng đầu tư vào đào tạo nhân lực chất lượng cao, cải thiện hệ thống đổi mới sáng tạo, và đẩy mạnh phát triển chuỗi cung ứng nội địa phục vụ ngành năng lượng sạch.
Bổ sung góc nhìn quốc tế, bà Sunita Dubey, đại diện quốc gia của Liên minh Năng lượng Toàn cầu vì Con người và Hành tinh, nhấn mạnh việc phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam không thể chỉ dựa vào công nghệ mà còn đòi hỏi một hành động phối hợp đồng bộ từ việc xây dựng chính sách rõ ràng và đáng tin cậy để thu hút các nhà đầu tư, đến việc phát triển các công cụ tài chính sáng tạo nhằm huy động tài chính xanh trên quy mô lớn.
“Đặc biệt, Việt Nam cần tăng cường hợp tác thể chế giữa các bộ, cơ quan quản lý, tổ chức tài chính trong nước và quốc tế để có thể thu hút được nguồn vốn đầu tư vào năng lượng tái tạo trong thời gian tới”, bà Dubey nhấn mạnh.
Trong bối cảnh Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang đặt mục tiêu hoàn thiện mạng lưới đường sắt đô thị vào năm 2030, áp lực về tiến độ và chi phí đầu tư trở nên rất lớn. Với tỷ lệ cầu cạn chiếm tới 50-90% chiều dài các tuyến, việc tìm kiếm một giải pháp kết cấu tối ưu nhằm giảm chi phí xây dựng, tiến độ thi công và mở ra hướng đi tự chủ công nghệ cho các nhà thầu Việt Nam là đặc biệt quan trọng.
Việc Ngân hàng Nhà nước mới đây mở cơ chế đặc biệt cho 18 dự án của Vingroup, Sun Group và Masterise đã tạo ra rất nhiều tranh luận. Sẽ là cực đoan nếu ủng hộ hay phản đối hoàn toàn. Thay vào đó, là góc nhìn ủng hộ có điều kiện để tin tưởng vào sự phát triển của đất nước, nhưng đồng thời thận trọng với những rủi ro tiềm ẩn...
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu Hà Nội chuyển hóa nhanh các định hướng của quy hoạch thành những chương trình, dự án và công trình cụ thể; lấy hiệu quả thực thi, nâng cao đời sống Nhân dân làm thước đo của năng lực quản trị...
Sau hơn một thập niên nỗ lực định hình các tuyến đường sắt đô thị đầu tiên, Hà Nội đang bước vào giai đoạn bứt phá hạ tầng bằng việc khởi công cùng lúc 5 tuyến metro với tổng chiều dài hơn 300 km. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô đầu tư, mà còn ở việc thành phố lần đầu tiên triển khai một chương trình phát triển metro theo tư duy mạng lưới thay vì từng dự án riêng lẻ.
Trở về quê hương sau nhiều năm xa cách, chuyên gia tài chính, nhà tư vấn đầu tư người Mỹ gốc Việt, Sam Van, đã ngỡ ngàng trước một Việt Nam chuyển mình phi thường từ “sinh tồn” sang cạnh tranh và dẫn dắt. Trò chuyện với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy nhân dịp ra mắt cuốn sách “40 năm từ Đổi mới đến hôm nay”, chuyên gia tài chính Sam Van cho rằng đằng sau cú nhảy vọt kinh tế 40 năm qua là những con người dám "đánh cược" với rủi ro…
35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Hiển tin tưởng VnEconomy/Tạp chí Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện thực hóa mục tiêu trở thành tổ hợp truyền thông đa nền tảng, hiện đại, chất lượng cao, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.