
Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng) vừa đưa ra dự báo trên. Trong đó, hàng xuất khẩu ước đạt 17,257 triệu tấn, giảm 1%; hàng nhập khẩu ước tăng 6%, đạt 65,345 triệu tấn. Hàng container thông qua cảng biển trong quý 1/2025 cũng dự kiến tăng khoảng 11% và đạt 7.454 triệu TEUs.
Cục Hàng hải và Đường thủy cũng cho biết, trong 2 tháng đầu năm 2025, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển cả nước đạt 135,38 triệu tấn và tăng khoảng 9% so cùng kỳ.
Trong đó, hàng xuất khẩu đạt 31,376 triệu tấn, tăng nhẹ 1%; hàng nhập khẩu tăng 8%, đạt 42,158 triệu tấn; đáng chú ý là hàng nội địa tăng mạnh 15%, đạt 61,333 triệu tấn, và hàng quá cảnh xếp dỡ đạt 513 ngàn tấn.
Điều này cho thấy dấu hiệu tích cực cho thấy sự phục hồi và phát triển của ngành logistics và vận tải biển, sau thời gian ngừng trệ hậu Covid-19 và sự đứt gãy chuỗi cung ứng.
Tính theo TEU (đơn vị hàng hóa tương đương 01 container 20 feet; 02 TEU = 01 FEU, tức 1 container 40 feet - chú thích của người viết) thì sản lượng hàng hóa tăng 18% so cùng kỳ 2024. Cụ thể, lượng hàng hóa qua cảng biển đạt 4 triệu 808 ngàn TEUs; trong đó, hàng nhập khẩu tăng mạnh 16% và đạt 1,591 triệu TEUs, hàng xuất khẩu tăng 5% và đạt 1,487 triệu TEUs; hàng nội địa tăng vượt trội 35% và đạt 1,731 triệu TEUs.
Hàng hóa thông qua cảng biển bằng tàu biển và các phương tiện thủy nội địkhác trong 2 tháng đầu năm 2025 cũng tăng lần lượt 11% đạt 98,74 triệu tấn và 4% đạt 35,3 triệu tấn. Các khu vực có sản lượng hàng thông qua cảng biển cao nhất cả nước gồm có TP.HCM tăng 13,53%, Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 10% và Hải Phòng tăng 2,79%. Ngoài ra, các cảng ở Huế, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Đồng Nai, Cần Thơ… cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, từ 14 - 49%.
Đối với hàng container, các khu vực có khối lượng container thông qua lớn nhất lần lượt gồm: Khu vực Vũng Tàu tăng 18%, TP.HCM tăng 7,34%, thành phố Hải Phòng tăng 6,86%. Các khu vực khác như Đồng Tháp tăng 63%; Quảng Nam tăng 30,06%; Đà Nẵng tăng 13%; Cần Thơ tăng 16%. Đồng Nai tăng 7%...
Cùng kỳ năm 2024, các khu vực trong cả nước có mức tăng trưởng như sau: Các khu vực có sản lượng cao như TP.HCM, Vũng Tàu, Hải Phòng với đều mức tăng trưởng từ 43 - 53% (so với cùng kỳ 2023); ngược lại,các khu vực như Hà Tĩnh, Quảng Bình, An Giang ghi nhận mức giảm thấp.
Các khu vực có sản lượng hàng hóa thông qua giảm, như Thanh Hóa giảm 34,22%, Nghệ An giảm 11%, Qui Nhơn giảm 4,23%... Đặc biệt, Bà Rịa - Vũng Tàu ghi nhận sự tăng trưởng vượt trội, dẫn đầu cả nước về sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển.
Với khối lượng hàng hóa qua cảng biển 3 tháng đầu năm 2025 ước đạt trên 21 triệu tấn, Bà Rịa - Vũng Tàu không chỉ giữ vững vị trí quan trọng trong ngành logistics, mà còn là điểm sáng sự phục hồi mạnh mẽ của ngành cảng biển Việt Nam. Sự tăng trưởng này đồng thời phản ánh nhu cầu tiêu dùng tăng cao từ các quốc gia nhập khẩu và dự báo tiếp tục thúc đẩy ngành cảng biển trong thời gian tới.
Có thể nói, với những tín hiệu tích cực này, ngành vận tải thủy Việt Nam nói chung, hàng hải nói riêng, đang trên đà phát triển vững chắc, góp phần thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển trong thời gian tới, đặc biệt năm 2025 này.
Nhằm thúc đẩy ngành vận tải thủy và hàng hải phát triển mạnh trong thời gian tới, việc đầu tư hạ tầng hàng hải, trong đó có hạ tầng cảng biển là rất quan trọng. Theo Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 140/QĐ-TTg ngày 16/01/2025, nhu cầu vốn đầu tư hệ thống cảng biển đến năm 2030 khoảng 351.500 tỷ đồng, gồm vốn đầu tư cho hạ tầng hàng hải công cộng khoảng 72.800 tỷ đồng, và vốn đầu tư cho bến cảng khoảng 278.700 tỷ đồng.
Theo quy hoạch này, tổng diện tích đất đến năm 2030 khoảng 33.800 ha, gồm các khu vực phát triển cảng biển, khu bến cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ và các khu công nghiệp, logistics… gắn liền với cảng; riêng diện tích đất phục vụ cảng biển là 17.300 ha. Về nhu cầu sử dụng mặt nước, đến năm 2030, nhu cầu này cần khoảng 606.000 ha, chưa bao gồm diện tích vùng nước khác trong phạm vi quản lý không bố trí công trình hàng hải khoảng 900.000 ha.




Trong bối cảnh ngành thủy sản đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu, yêu cầu phát triển xanh và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường quốc tế, việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xem là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho toàn chuỗi sản xuất...
Triển lãm Kết nối Chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế (Viet Nam International Sourcing Expo - VIS 2026) không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán, mà còn giúp doanh nghiệp “nghe” được nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất, nâng chất lượng, chuyển đổi xanh và gia tăng giá trị...
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.
Thị trường nông sản, chăn nuôi và thủy sản trong tháng 8/2026 ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều. Trong khi giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giá cà phê tại Tây Nguyên tăng so với tháng trước, thì giá lợn hơi, hồ tiêu và tôm thẻ chân trắng lại chịu áp lực giảm do nguồn cung dồi dào và sức mua chưa phục hồi mạnh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.