Các doanh nghiệp ngành logistics Việt Nam đã bước đầu thực hiện chuyển đổi xanh trong hoạt động của mình. Bên cạnh chuyển đổi phương thức vận chuyển nhằm tiết giảm chi phí, nhiều doanh nghiệp cũng đang dần thay thế phương tiện vận tải sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường, hệ thống kho năng lượng mặt trời... để hạn chế tối đa lượng phát thải.
Tuy nhiên, Bộ Công Thương nhìn nhận, số doanh nghiệp logistics thực hiện chuyển đổi xanh này còn quá ít trong số hàng chục nghìn doanh nghiệp logistics trên cả nước. Nguyên nhân do việc triển khai rộng rãi logistics xanh còn gặp nhiều thách thức, như: các rào cản kỹ thuật và công nghệ, vấn đề về chi phí đầu tư, hạn chế trong nhận thức của chính doanh nghiệp, hạ tầng logistics chưa đồng bộ.
Bên cạnh đó, nhận thức và hiểu biết của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa về yêu cầu xanh hóa ngành logistics đang rất hạn chế. Kế đến là sự hạn chế về công nghệ, trong khi đó, việc áp dụng công nghệ thông tin để tối ưu hóa chuỗi cung ứng lại đòi hỏi kỹ năng cao và công nghệ tiên tiến, điều mà không phải mọi doanh nghiệp đều có khả năng đầu tư.
Tại tọa đàm “Thích ứng logistics xanh - Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp” ngày 9/9, TS Trần Thị Thu Hương, Trưởng bộ môn logistics và chuỗi cung ứng, Trường Đại học Thương mại, cho rằng chúng ta có hơn 34.000 các doanh nghiệp logistics, song phần lớn các doanh nghiệp logistics của Việt Nam mới chỉ đóng vai trò là vệ tinh, chỉ tham gia được một phần trong chuỗi logistics toàn cầu.
Theo bà Hương, khó khăn với các doanh nghiệp logistics khi chuyển đổi sang xanh hoá, đầu tiên đó là áp lực từ phía thị trường. Xanh hóa chắc chắn ở giai đoạn đầu sẽ đòi hỏi các doanh nghiệp đầu tư tốn kém về mặt chi phí. Trong khi đa phần doanh nghiệp logistics là nhỏ và vừa, đây là một áp lực đối với doanh nghiệp khi phải đưa ra các quyết định liên quan đến đầu tư để trở nên xanh hơn.
Hơn nữa, cơ sở hạ tầng của chúng ta dù đã có sự phát triển nhưng để đáp ứng được yêu cầu xanh hóa thì còn nhiều hạn chế. Ví dụ, chuyển đổi từ vận tải bằng đường bộ sang vận chuyển bằng các hình thức có mức phát thải thấp hơn như đường thủy nội địa chẳng hạn hay đường sắt… thì khả năng chuyển đổi cũng rất hạn chế.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Mai Trần Thuật, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Logistics dược phẩm Đông Á, cũng đồng tình với nhận định khó khăn đầu tiên khi thực hiện logistics xanh là vấn đề đầu tư cho công nghệ, xanh hoá bao bì đóng gói, kho bãi sử dụng năng lượng tái tạo nhằm giảm khí nhà kính, giảm rác thải ra môi trường… Những yêu cầu này đòi hỏi cần nguồn tài chính rất lớn trong khi doanh nghiệp hạn chế về vốn.
“Như hiện tại chúng tôi vận hành một kho khoảng 10 nghìn pallet, đang mất khoảng 200 triệu đồng tiền điện/tháng. Ngoài câu chuyện chi phí, lượng điện sử dụng này thải ra môi trường rất nhiều khí độc. Nên chuyển đổi xanh, đưa dòng điện mặt trời áp mái vào sẽ giảm chi phí rất nhiều, giảm phát thải khí nhà kính, song câu chuyện đầu tư ban đầu sẽ khá tốn kém”, ông Thuật chia sẻ.
Hơn nữa, sản lượng điện mặt trời thừa doanh nghiệp chưa được phép mua-bán…, dẫn đến doanh nghiệp không thể đầu tư được. Hay vấn đề vận tải, hiện nay doanh nghiệp vận chuyển bằng xe tải lạnh, nhiên liệu chiếm đến 35 – 45%, thải ra lượng khí carbon rất lớn. Doanh nghiệp muốn đưa xe tải điện vào sử dụng nhưng hiện tại ở Việt Nam chưa có bên nào cung cấp xe tải điện.
Để logistics chuyển đổi theo hướng xanh hoá, đáp ứng những yêu cầu xanh của khách hàng và thực hiện theo những định hướng của Nhà nước về xanh hóa logistics, theo ông Thuật cần giải quyết bài toán về đầu tư và câu chuyện chính sách vĩ mô của Nhà nước, như chính sách về ưu đãi thuế, tài chính.
Đồng thời, kết nối các doanh nghiệp thực sự có nhu cầu đầu tư vào logistics xanh. Có chính sách kêu gọi đầu tư ngay từ đầu, như: đầu tư khu công nghiệp xanh ngay, sử dụng điện áp mái, đầu tư vào xe tải điện…
Đặc biệt, logistics xanh cần phải được đào tạo ngay trong nội bộ doanh nghiệp. Tức là bản thân doanh nghiệp phải nhận thức được câu chuyện xanh này để có những định hướng chiến lược kinh doanh phù hợp.
Bà Hương bổ sung, xanh hoá logistics cần bắt đầu từ lãnh đạo doanh nghiệp. Người đứng đầu doanh nghiệp có nhận thức tốt về chuyển đổi xanh, có tầm nhìn chiến lược trong phát triển doanh nghiệp của mình để đáp ứng yêu cầu ngày càng xanh hơn của thị trường thì họ sẽ thay đổi hàng loạt các chính sách cũng như có mức độ đầu tư thích đáng trong hoạt động này.
Ở góc độ cơ quan quản lý, bà Đặng Hồng Nhung, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương thông tin, hiện nay các chính sách ưu đãi của Chính phủ đang tập trung vào việc hỗ trợ doanh nghiệp logistics trong chuyển đổi phương tiện. Tức là chúng ta đang khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi sang các phương tiện có lượng phát thải thấp và sử dụng chủ yếu là phương tiện vận tải bằng điện.
Cụ thể, Chính phủ đã có chính sách rất nổi bật như: miễn lệ phí trước bạ trong 3 năm đầu tiên cho xe tải điện vận hành bằng pin và giảm 50% lệ phí trước bạ trong hai năm tiếp theo.
Ngoài ra đối với vấn đề về hỗ trợ doanh nghiệp trong việc giảm tiết kiệm điện năng, Bộ Công Thương cũng có những dự án hỗ trợ doanh nghiệp và đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình chuyển đổi tiết kiệm điện năng.
Hiện Bộ Công Thương đang xây dựng dự thảo Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035 và tầm nhìn đến 2045. Trong dự thảo chiến lược, vấn đề phát triển logistics xanh cũng là một trong những quan điểm hàng đầu.
Bà Nhung cho biết sau khi dự thảo được ban hành, dự kiến Bộ cũng sẽ xây dựng chiến lược phát triển xanh cho riêng dịch vụ logistics. Trong đó sẽ tích hợp tất cả những vấn đề về điện năng, kết hợp các vấn đề về chuyển đổi phương thức vận tải sao cho xanh hóa, tận dụng những phương thức vận tải tối ưu hơn…
Trong bối cảnh ngành thủy sản đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu, yêu cầu phát triển xanh và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường quốc tế, việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xem là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho toàn chuỗi sản xuất...
Triển lãm Kết nối Chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế (Viet Nam International Sourcing Expo - VIS 2026) không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán, mà còn giúp doanh nghiệp “nghe” được nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất, nâng chất lượng, chuyển đổi xanh và gia tăng giá trị...
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.
Thị trường nông sản, chăn nuôi và thủy sản trong tháng 8/2026 ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều. Trong khi giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giá cà phê tại Tây Nguyên tăng so với tháng trước, thì giá lợn hơi, hồ tiêu và tôm thẻ chân trắng lại chịu áp lực giảm do nguồn cung dồi dào và sức mua chưa phục hồi mạnh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.