Chiều 24/7/2026, Mạng lưới EUDR Lâm nghiệp, Mạng lưới Nghiên cứu chính sách nông - lâm nghiệp, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) và Forest Trends phối hợp tổ chức hội thảo trực tuyến "Nâng cao chuỗi giá trị ngành gỗ thông qua việc đẩy mạnh liên kết giữa khâu chế biến và vùng nguyên liệu bền vững và thị trường carbon: Từ góc nhìn vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long" nhằm thúc đẩy phát triển và nâng cao giá trị ngành gỗ Việt Nam.
Phát biểu khai mạc, ông Phùng Quốc Mẫn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Chủ tịch HAWA, cho biết ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực, với kim ngạch xuất khẩu năm 2025 vượt 17 tỷ USD.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp đang cạnh tranh gay gắt về nguồn gỗ rừng trồng trong nước. Các nhóm doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, gỗ dán, dăm gỗ và viên nén đều sử dụng nguồn nguyên liệu từ rừng trồng nhưng với quy cách khác nhau, khiến áp lực thu mua ngày càng lớn. Trong khi doanh nghiệp sản xuất dăm vẫn có khả năng thu mua được nhiều nguyên liệu, nhiều doanh nghiệp sản xuất ván bóc và đồ gỗ gặp khó khăn trong tiếp cận nguyên liệu.
Ngành gỗ đang thiếu chiến lược phát triển vùng nguyên liệu dựa trên cơ sở khoa học. Mỗi loài cây như keo, tràm, bạch đàn, mỡ hay bồ đề chỉ phù hợp với những điều kiện sinh thái và thổ nhưỡng nhất định. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có đầy đủ các đánh giá về tiềm năng phát triển từng loài theo từng vùng, gây khó khăn cho việc định hướng đầu tư vùng nguyên liệu và phát triển công nghiệp chế biến phù hợp".
Trong bối cảnh Chính phủ thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính, thị trường tín chỉ carbon mở ra cơ hội mới cho ngành gỗ. Việc kéo dài chu kỳ khai thác, áp dụng các biện pháp lâm sinh bền vững, bảo vệ đất và tăng đa dạng sinh học không chỉ giúp tạo nguồn gỗ lớn phục vụ chế biến sâu mà còn có thể tạo thêm nguồn thu từ tín chỉ carbon. Tuy nhiên, để khai thác cơ hội này cần có cơ sở khoa học đánh giá tiềm năng tín chỉ, cùng sự tham gia của doanh nghiệp và các hộ trồng rừng.
Đầu tháng 7/2026, HAWA đã khảo sát tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nhằm đánh giá tiềm năng phát triển vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị chế biến gỗ bền vững. Thời gian tới, HAWA sẽ tiếp tục khảo sát tại Đông Nam Bộ, đồng thời làm việc với chính quyền địa phương để đề xuất các giải pháp phát triển vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng rừng, hướng tới chuỗi cung ứng bền vững và hạn chế cạnh tranh không lành mạnh về nguyên liệu.
Theo báo cáo "Nguồn cung gỗ nguyên liệu rừng trồng hiện nay: Thực trạng và một số tồn tại" của TS Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Forest Trends, tính đến ngày 31/12/2025, Việt Nam có 10,1 triệu ha rừng tự nhiên và 4,9 triệu ha rừng trồng. Trong đó, Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có diện tích rừng trồng lớn nhất với khoảng 1,7 triệu ha, tiếp đến là Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với 1,4 triệu ha, Bắc Trung Bộ khoảng 1 triệu ha.
Số liệu cũng cho thấy diện tích rừng trồng sản xuất liên tục tăng trong giai đoạn 2015-2025, từ gần 2,73 triệu ha lên hơn 4,16 triệu ha, phản ánh xu hướng mở rộng vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu gỗ.
Tuy nhiên, diện tích rừng đạt các chứng chỉ quản lý bền vững vẫn còn khiêm tốn. Đến ngày 11/5/2026, tổng diện tích rừng có Chứng chỉ của Hội đồng Quản lý rừng (FSC) và PEFC/VFCS (sự kết hợp giữa Hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia Việt Nam và Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng quốc tế) đạt khoảng 880.200 ha. Riêng chứng chỉ FSC đạt khoảng 616.900 ha. Đối với chứng chỉ PEFC/VFCS, diện tích đạt khoảng 263.200 ha, tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ (83.000 ha) và Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên (74.000 ha).
Báo cáo lưu ý phần lớn diện tích đạt chứng chỉ PEFC (Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng quốc tế) là rừng cao su. Các địa phương có diện tích PEFC lớn gồm Đồng Nai, Gia Lai, TP. Hồ Chí Minh, Tuyên Quang và Quảng Ninh.
Ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC), Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, cho hay Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách phục vụ phát triển thị trường carbon. Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 với các quy định về kiểm kê khí nhà kính, hạn ngạch phát thải và phát triển thị trường carbon, nhiều nghị định và văn bản hướng dẫn đã được ban hành.
Đáng chú ý là Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước, Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, cùng các thông tư, quyết định hướng dẫn quản lý hệ thống đăng ký quốc gia, thủ tục hành chính đối với dự án carbon rừng và kế hoạch giảm phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp.
Theo đó, hoạt động thương mại tín chỉ carbon được triển khai theo hai hướng, gồm: thị trường quốc tế theo Nghị định 112/2026/NĐ-CP và thị trường trong nước thông qua sàn giao dịch carbon theo Nghị định 29/2026/NĐ-CP, kết hợp các quy định của Nghị định 180/2026/NĐ-CP đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
Có thể nói bức tranh mà chúng ta nhìn thấy rất rõ là có rất ít chuỗi liên kết ổn định từ rừng trồng đến doanh nghiệp chế biến gỗ và doanh nghiệp xuất khẩu. Hiện nay, giao dịch giữa người trồng rừng với doanh nghiệp chủ yếu vẫn thông qua hệ thống thương lái. Riêng lượng gỗ phục vụ sản xuất dăm gỗ và viên nén chiếm khoảng 74% nguồn nguyên liệu từ rừng trồng. Gỗ phục vụ sản xuất ván dán và plywood chiếm khoảng 18%, trong khi gỗ rừng trồng phục vụ ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ nội, ngoại thất, kể cả ván ghép thanh, chỉ chiếm khoảng 8%. Điều này làm cho giá trị gia tăng của ngành gỗ còn rất thấp".
Theo đánh giá của VFCC, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển các dự án tín chỉ carbon từ cải thiện quản lý rừng trồng. Hiện cả nước có khoảng 4,7 triệu ha rừng trồng, trong đó khoảng 4 triệu ha là rừng sản xuất. Phần lớn diện tích là rừng keo chu kỳ ngắn với năng suất còn thấp, trong khi các tiến bộ về giống, quản lý lập địa và kỹ thuật lâm sinh vẫn còn nhiều dư địa để nâng cao năng suất và tăng khả năng hấp thụ carbon. Việc tổ chức lại sản xuất theo hướng hiệu quả và bền vững cũng mở ra cơ hội gia tăng giá trị từ cả gỗ lớn và tín chỉ carbon.
Tuy nhiên, ông Phương chỉ rõ việc triển khai các dự án vẫn đối mặt nhiều khó khăn. Phần lớn chủ rừng hiện là cá nhân và hộ gia đình với quy mô nhỏ, hạn chế về năng lực kỹ thuật và nguồn lực tài chính. Bên cạnh đó, việc thay đổi phương thức kinh doanh từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn kết hợp phát triển tín chỉ carbon đòi hỏi thời gian, vốn đầu tư và sự thay đổi trong tư duy sản xuất.
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Chiều ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.