"Năm nay, Chính phủ sẽ tính toán để xây dựng một chiến lược nợ mới", Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trả lời báo chí về dư nợ quốc gia, trong giờ giải lao phiên thảo luận kinh tế, xã hội và ngân sách của Quốc hội sáng 27/5.
Thưa Phó thủ tướng, với nhiều đại biểu dường như nợ quốc gia trở thành mối lo ngại rất lớn. Với Chính phủ thì sao?
Ngày nay, nợ quốc gia không chỉ là vấn đề của chính quốc gia ấy, do nó đã được thị trường hóa trên thị trường tài chính quốc tế rồi. Tất cả các trái phiếu của người ta phát hành ra đều do các tổ chức tài chính trung gian mua vào. Cho nên nó sẽ ảnh hưởng không chỉ tới kinh tế của các nước đó, mà còn ảnh hưởng tới cả thị trường tài chính tiền tệ, sản xuất xuất kinh doanh toàn cầu. Ta cũng phải đề phòng.
Chủ trương của ta thì từ lâu đã đưa ra hệ số an toàn cho việc vay nợ. Hệ số an toàn này phù hợp với điều kiện “sức khỏe” của từng nước. Có nước người ta có thể trên 100% GDP, xấp xỉ 100%, dưới 100%. Còn nước ta khoảng 50% GDP.
Khả năng trả nợ của Việt Nam như thế nào, thưa Phó thủ tướng?
Mình cũng đề phòng rồi, nợ quốc gia của mình là nợ ODA và dài hạn là chính. Vay ODA thời gian vay 30-40 năm, thời gian trả nợ rất lâu, khi mình phát triển rồi thì có khả năng trả nợ. Thứ hai, cơ cấu mình nợ quốc gia vốn nước ngoài, doanh nghiệp, phải đưa vào những doanh nghiệp đầu tư có khả năng trả được nợ. Tuy là doanh nghiệp nhưng quốc gia bảo đảm vì vậy cũng có trách nhiệm của quốc gia.
Sau thời điểm xử lý nợ của thời kỳ bao cấp là mình trở lại một nước sòng phẳng nợ nần. Vay mới những năm gần đây hầu hết đều là ODA. Và mức giữ khoảng dưới 50%.
Giai đoạn tới, Việt Nam chuyển từ một nước kém phát triển sang một nước bắt đầu phát triển ở mức trung bình thấp, mình có thể bắt đầu vay một số khoản nợ dành cho hạ tầng, cho giáo dục đào tạo, làm trường, đầu tư vào các vùng nghèo. Những khoản đầu tư này chưa thể đi vào ICOR ngay được, như làm điện tận miền núi hay làm cơ sở hạ tầng cho các đồng bào vùng sâu vùng xa, đầu tư giảm nghèo, cải tạo đồng ruộng…
Năm nay, Chính phủ sẽ tính toán để xây dựng một chiến lược nợ mới. Xem rằng trong giai đoạn phát triển trung bình thì mức an toàn là bao nhiêu hợp lý. Đây đang là câu hỏi, còn phụ thuộc vào việc đất nước mình trong 10 năm tới, 20 năm tới mình phát triển với tốc độ nào, có bền vững không. Lo lắng nợ quốc gia không chỉ là vấn đề của cả quốc gia mà của cả toàn cầu. Nước ta không thể nào không quan tâm được.
Vậy tỷ lệ cơ cấu dư nợ sẽ thay đổi như thế nào, thưa Phó thủ tướng?
Cái đó đang tính. Trong giai đoạn nền kinh tế mình thấp thì mình giữ ở mức 50%. Nhưng nếu thời gian tới nếu mình phát triển, tức là làm ra nhiều của cải, khả năng trả nợ lớn hơn thì mình có thể vay cao hơn. Còn cao hơn bao nhiêu thì phải tính.
Cũng cần cân nhắc về cơ cấu. Nợ quốc gia bao gồm cả nợ chính phủ vay nước ngoài và doanh nghiệp vay nước ngoài, cần cơ cấu xem chính phủ bao nhiêu, doanh nghiệp bao nhiêu.
Thời hạn vay dài hay ngắn cũng cần tính toán. Tất cả đó đều là kỹ thuật chi tiết mà nếu mình không lên một bài toán chiến lược tổng thể không có tầm nhìn dài thì đến một lúc nào đó, đến ngày trả nợ mà mình không trả nợ được thì rất bất cập. Chẳng hạn Hy Lạp, hay trước đây như Argentina.
Argentina cách đây 5-7 năm cũng lâm vào tình cảnh khủng hoảng nợ quốc gia. Nguyên nhân chính của họ là bảo lãnh cho doanh nghiệp vay quá nhiều sau đó chuyển từ nợ doanh nghiệp sang nợ chính phủ. Và chính phủ trở thành con nợ vô cùng to lớn.
Thưa Phó thủ tướng, lo lắng về nợ càng tăng lên khi đang có có nhiều dự án lớn như đường sắt cao tốc, quy hoạch vùng thủ đô… đều cần tới hàng chục tỷ đến gần trăm tỷ USD. Việc này được Chính phủ tính toán thế nào?
Nó nằm trong kế hoạch tổng thể. Chúng ta vay nợ một là ODA, có khoản tài trợ không hoàn lại, tài trợ kỹ thuật chẳng hạn, có khoản có lãi thấp. ODA thường là của các tổ chức tài chính quốc tế mà một số nước phát triển dành cho mình. Ví dụ như WB, IMF chẳng hạn, nó là quỹ của thế giới, chúng ta là cổ đông có cổ phần trong đó, thuộc loại đối tượng những nước được ưu tiên hơn, phải tranh thủ nguồn đó. Các khoản vay khác mình phải chuyển dần sang đầu tư.
Các khoản vay khác mình phải chuyển dần sang đầu tư. Lâu nay khi cổ phần hóa doanh nghiệp hay ngân hàng, chúng ta vẫn để nhà đầu tư nước ngoài vào mua cổ phần. Khi mua như vậy, họ sẽ mang vốn vào đầu tư, lời ăn lỗ chịu, chứ mình không phải đi vay. Nếu mà phải đi vay để đầu tư 100% thì không ổn. Cho nên cơ cấu của đầu tư trong tương lai phải thay đổi.
Chủ trì Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 9, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu xử lý triệt để các chồng chéo, bất cập, khơi thông nguồn lực, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Chiều tối 16/9, Nhà vua Thái Lan Maha Vajiralongkorn Phra Vajiraklaochaoyuhua và Hoàng hậu Suthida Bajrasudhabimalalakshana rời Hà Nội, kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 14-16/9/2026, theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân.
Tiếp lãnh đạo Huawei, CCCC và CEEC tại Nam Ninh, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đề nghị các tập đoàn tăng cường hợp tác, đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực công nghệ số, hạ tầng giao thông, năng lượng xanh và đường sắt.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Quảng Tây tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam, thúc đẩy đầu tư chất lượng cao, đẩy nhanh kết nối đường sắt, vận hành cửa khẩu thông minh và mở rộng hợp tác khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo.
Các bộ, ngành và địa phương phải xây dựng mới hoặc rà soát, cập nhật và ban hành Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ, cấp tỉnh chậm nhất ngày 29/1/2027, hướng tới một không gian số thống nhất, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động đang ngày càng tác động đến cách du khách lựa chọn điểm đến. Đây được xem là dư địa để Việt Nam phát triển du lịch wellness, kết hợp nghỉ dưỡng, trị liệu, dinh dưỡng và trải nghiệm thiên nhiên.