Trong bối cảnh đất nước đang hướng đến hiện đại hóa hạ tầng giao thông, ngành đường sắt đứng trước thời cơ lớn để bứt phá thông qua hàng loạt những dự án nổi bật như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt đô thị hay mở rộng mạng lưới đường sắt quốc gia. Điều này không chỉ đòi hỏi nguồn vốn khổng lồ mà còn đặt ra bài toán nội địa hóa công nghệ và thiết bị...
Ảnh minh hoạ
Thực tế cho thấy trên hành trình hiện đại hóa, các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu tham gia vào chuỗi cung ứng ngành đường sắt, nhưng phần lớn mới chỉ dừng ở những mảnh ghép nhỏ lẻ.
Theo báo cáo từ Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng), Tổng công ty Đường sắt Việt Nam hiện đang quản lý 258 đầu máy, trong đó phần lớn là đầu máy chạy trên khổ đường 1.000 mm (248 đầu máy, chiếm 96%), trong khi số lượng đầu máy sử dụng khổ đường 1.435 mm rất ít (10 đầu máy, chỉ chiếm 4%).
Về hệ thống toa xe, Việt Nam hiện có tổng cộng 5.298 toa xe gồm 980 toa xe khách và 4.318 toa xe hàng. Tuy nhiên, phần lớn các toa xe này đã qua nhiều năm sử dụng với khoảng 40% số toa xe có thời gian khai thác dưới 20 năm, trong khi 55% đã có tuổi thọ trên 30 năm. Chất lượng toa xe khách còn nhiều hạn chế khi chỉ 24% được trang bị điều hòa không khí, phần lớn vẫn là các toa xe cũ được nâng cấp, cải tạo.
NĂNG LỰC "CỐT LÕI" CHƯA ĐƯỢC KHAI PHÁ
Từ năm 2005 đến nay, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã đặt hàng trong nước đóng mới 240 toa xe khách và 773 toa xe hàng. Tuy nhiên, nhu cầu thực tế vẫn vượt xa nguồn cung, đặc biệt là toa xe hàng chuyên dụng như container và xe hàng có mui, buộc các doanh nghiệp vận tải phải thuê phương tiện từ nước ngoài.
Không chỉ thiếu hụt phương tiện, ngành đường sắt còn đối mặt với thách thức lớn về vật tư hạ tầng. Hiện nay, trong nước mới chỉ sản xuất được tà vẹt bê tông dự ứng lực, trong khi các loại đường ray P43, P50 hay vật liệu cao cấp dành cho đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn. Các loại ghi đường sắt cũng chưa thể sản xuất trong nước mà phải nhập khẩu nguyên chiếc.
Dù ngành thép Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trên thị trường quốc tế, nhưng theo Hiệp hội Thép Việt Nam, lĩnh vực sản xuất thép đặc chủng vẫn chưa phát triển. Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu tập trung vào thép xây dựng thông thường, trong khi thép chuyên dụng phục vụ ngành đường sắt đòi hỏi công nghệ cao và vốn đầu tư lớn, nhưng thị trường lại nhỏ, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.
Ngoài vật tư, ngành đường sắt còn bị phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu công nghệ thông tin – tín hiệu. Hiện tại, doanh nghiệp trong nước chỉ sản xuất được một số thiết bị đơn giản như cáp và ắc-quy, còn các hệ thống công nghệ cao đều phải nhập khẩu. Duy nhất Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) có khả năng sản xuất một số thiết bị viễn thông hiện đại, nhưng vẫn chưa đầu tư mạnh vào lĩnh vực thông tin tín hiệu đường sắt.
Một trong những nguyên nhân chính khiến công nghệ tín hiệu đường sắt trong nước chưa phát triển là yêu cầu về độ an toàn, ổn định và tin cậy tuyệt đối, trong khi thị trường tiêu thụ lại nhỏ, khiến doanh nghiệp không mạnh dạn đầu tư. Bên cạnh đó, các dự án đường sắt chủ yếu tập trung vào cải tạo hệ thống cũ thay vì áp dụng công nghệ mới, trong khi những dự án quan trọng như đường sắt tốc độ cao chỉ được triển khai sau năm 2030, dẫn đến nhu cầu về thiết bị công nghệ hiện đại chưa thực sự cấp thiết.
Một rào cản khác là Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật hoàn chỉnh cho thiết bị đường sắt, đồng thời chưa có các đơn vị đủ năng lực kiểm định, hợp chuẩn, hợp quy, khiến sản phẩm công nghệ cao trong nước chưa thể thương mại hóa rộng rãi. Những yếu tố này đang kìm hãm sự phát triển của ngành, khiến đường sắt Việt Nam tiếp tục phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.
Nhìn vào bức tranh tổng thể, có thể thấy dù tiềm năng lớn, các doanh nghiệp nội địa vẫn chưa thể làm chủ chuỗi cung ứng đường sắt một cách toàn diện. Hệ quả là phần lớn dự án đường sắt tại Việt Nam hiện nay vẫn phụ thuộc vào nhà thầu nước ngoài từ khâu thiết kế, thi công đến cung cấp thiết bị, làm gia tăng chi phí và đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo trì, vận hành sau này.
BÀI HỌC TỪ CÁC QUỐC GIA LÀM CHỦ ĐƯỢC CÔNG NGHỆ
Theo PGS.TS. Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp, việc làm chủ công nghệ không chỉ giúp giảm chi phí đầu tư mà còn nâng cao năng lực sản xuất trong nước, hạn chế sự phụ thuộc vào nước ngoài và tạo động lực cho sự phát triển bền vững của ngành đường sắt.
Đơn cử như Trung Quốc, hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về mạng lưới đường sắt tốc độ cao, nhờ chiến lược tiếp nhận và phát triển công nghệ bài bản. Trong hơn 20 năm qua, Trung Quốc đã hợp tác với nhiều tập đoàn lớn như Kawasaki (Nhật Bản), Bombardier (Canada), Siemens (Đức) và Alstom (Pháp) để triển khai các dự án đường sắt.
Chính phủ Trung Quốc đặt ra yêu cầu bắt buộc rằng các công ty nước ngoài phải chuyển giao công nghệ khi tham gia vào các dự án trong nước. Nhờ chính sách này, Trung Quốc đã đạt tỷ lệ nội địa hóa lên đến khoảng 90%, trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực công nghiệp đường sắt, đồng thời chủ động xuất khẩu công nghệ ra nước ngoài.
Ảnh minh hoạ
Tại châu Âu, Ba Lan cũng thực hiện chiến lược nội địa hóa thông qua hợp tác với các tập đoàn quốc tế. Năm 2011, Công ty Tàu điện ngầm Warsaw ký hợp đồng mua 35 đoàn tàu điện ngầm trị giá 272 triệu EUR với liên doanh Siemens và Công ty Newag (Ba Lan). Theo thỏa thuận, 10 đoàn tàu đầu tiên được lắp ráp tại nhà máy Siemens ở Áo, trong khi các đoàn tàu còn lại được hoàn thiện tại nhà máy Newag S.A. ở Ba Lan. Việc chuyển giao công nghệ này giúp Ba Lan dần làm chủ quy trình sản xuất và từng bước giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài.
Tương tự, Malaysia cũng áp dụng chiến lược nội địa hóa bằng cách yêu cầu các dự án đường sắt phải thực hiện lắp ráp trong nước. Năm 2012, khi tổ chức đấu thầu 58 đoàn tàu điện ngầm, Chính phủ nước này đặt điều kiện rằng quá trình lắp ráp phải được thực hiện tại Malaysia. Liên danh Siemens Malaysia, Siemens AG và SMH Rail đã trúng thầu hợp đồng trị giá 350 triệu EUR. Theo thỏa thuận, thân toa xe do CSR Puzhen (Trung Quốc) sản xuất, nhưng công đoạn lắp ráp hoàn thiện diễn ra tại nhà máy SMH Rail ở Malaysia. Chính sách này giúp Malaysia phát triển năng lực sản xuất nội địa, giảm chi phí nhập khẩu và chủ động hơn trong công tác bảo trì, vận hành hệ thống đường sắt đô thị.
Dự báo cho thấy, việc đầu tư phát triển hạ tầng đường sắt đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, bao gồm cả đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị, sẽ mở ra một thị trường xây dựng quy mô lớn, ước tính khoảng 76 tỷ USD, cùng thị trường thiết bị lên tới 34 tỷ USD. Cùng với đó, nhu cầu về đầu máy, toa xe, hệ thống thông tin tín hiệu và các thiết bị khác sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp sản xuất trong nước phát triển theo hướng nội địa hóa.
HƯỚNG TỚI LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ ĐƯỜNG SẮT
Trong bối cảnh khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, nhiều doanh nghiệp trong nước đã có đủ tiềm lực để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, cung ứng sản phẩm công nghiệp và dịch vụ. Với quy mô thị trường rộng lớn do ngành đường sắt tạo ra, đây là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước tiếp nhận, chuyển giao công nghệ, làm chủ các công nghệ hiện đại và tiến tới tự chủ trong sản xuất.
Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải, Việt Nam có khả năng tự chủ hoàn toàn trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng đường sắt, chiếm khoảng 41% tổng mức đầu tư, tương tự như cách đã thực hiện thành công với các công trình cầu, hầm và đường cao tốc.
Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực xây dựng, nếu có chính sách hỗ trợ phù hợp, Việt Nam có thể từng bước làm chủ và nội địa hóa trong các lĩnh vực then chốt như chế tạo toa xe, hệ thống cấp điện động lực, hệ thống thông tin – tín hiệu, cũng như tự chủ trong công tác vận hành, bảo trì và sản xuất linh kiện thay thế cho đường sắt tốc độ cao. Đây không chỉ là bước tiến quan trọng trong phát triển hệ thống giao thông hiện đại mà còn là động lực thúc đẩy ngành công nghiệp đường sắt và công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Nhằm hiện thực hóa mục tiêu này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 178/NQ-CP ngày 31/10/2023, xác định công nghiệp đường sắt là một trong những lĩnh vực trọng điểm để phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cho thấy việc làm chủ công nghệ đường sắt không thể diễn ra trong thời gian ngắn mà cần có lộ trình bài bản, đi kèm với sự phát triển của hệ thống công nghiệp phụ trợ như luyện kim, cơ khí chế tạo và tự động hóa.
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất để thúc đẩy ngành công nghiệp đường sắt chính là quy mô thị trường đủ lớn, đảm bảo tính bền vững cho quá trình chuyển giao và phát triển công nghệ.
Nhiều chuyên gia đồng tình rằng với những điều kiện thuận lợi về thị trường và chính sách hỗ trợ, Việt Nam hoàn toàn có khả năng làm chủ công nghiệp xây dựng hạ tầng đường sắt, tự chủ sản xuất và từng bước nội địa hóa các sản phẩm thiết yếu, đưa ngành công nghiệp đường sắt trở thành một trụ cột quan trọng trong nền kinh tế quốc gia...
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 13-2025 phát hành ngày 31/3/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Tiếp tục hủy thầu dự án LNG Nghi Sơn 58.000 tỷ đồng do không có nhà đầu tư tham gia
Sau ba lần mời thầu, Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Nghi Sơn với tổng mức đầu tư 57.524 tỷ đồng vẫn chưa tìm được chủ đầu tư. Tại thời điểm đóng thầu ngày 20/4/2026, hệ thống không ghi nhận bất kỳ nhà đầu tư nào đăng ký, đánh dấu lần thứ ba liên tiếp dự án trọng điểm này thất bại trong việc thu hút đầu tư...
Kiên quyết xử lý sai phạm, không để chậm tiến độ sân bay Long Thành
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu xử lý nghiêm các sai phạm trong quá trình triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, đồng thời khẩn trương tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm hoàn thành và đưa dự án vào khai thác thương mại trong năm 2026...
Điều chỉnh mở rộng Khu Thương mại tự do Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng, sau khi hợp nhất, đã trở thành một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của cả nước với diện tích và quy mô dân số lớn hơn. Sự thay đổi này không chỉ mở ra không gian phát triển mới mà còn đặt ra những yêu cầu cấp bách về việc điều chỉnh và mở rộng Khu thương mại tự do Đà Nẵng...
[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam tháng 4/2026
Trong 4 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì những điểm sáng nổi bật trong sản xuất công nghiệp, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), số lượng doanh nghiệp thành lập mới tại Việt Nam...
Dòng vốn FDI vào Việt Nam vượt mốc 18 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm
Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế Việt Nam khi tổng số vốn FDI đăng ký đạt hơn 18 tỷ USD, và vốn FDI thực hiện ước đạt 7,40 tỷ USD - duy trì là mức cao nhất trong 5 năm qua...
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: