
Sáng 4/5, S&P Global công bố báo cáo Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tháng 4/2023.
Trong đó, có 3 điểm nhấn nổi bật là sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới giảm mạnh hơn; Việc làm giảm tháng thứ hai liên tiếp; Chi phí đầu vào tăng chậm lại thành mức thấp của 35 tháng.
Dữ liệu của tháng 4 cho thấy ngành sản xuất của Việt Nam tiếp tục suy giảm khi nhu cầu khách hàng vẫn yếu. Cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều giảm tháng thứ hai liên tiếp, và các công ty đã giảm tương ứng việc làm và hoạt động mua hàng. Trong khi đó, áp lực chi phí tiếp tục giảm, từ đó giúp các công ty giảm giá bán hàng của họ để thúc đẩy nhu cầu.
Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam vẫn nằm dưới ngưỡng 50 điểm trong tháng 4, khi giảm về mức 46,7 điểm so với 47,7 điểm của tháng 3. Chỉ số cho thấy các điều kiện kinh doanh giảm lần thứ năm trong sáu tháng qua, và lần giảm này là mạnh nhất trong năm tính đến thời điểm này.
Sản lượng ngành sản xuất giảm tháng thứ hai liên tiếp, và tốc độ giảm là mạnh khi các công ty cho biết đã gặp khó khăn trong việc thu hút đơn đặt hàng mới trong tháng, trong bối cảnh nhu cầu yếu. Tốc độ giảm là nhanh hơn so với tháng 3.
Những khó khăn trong việc thu hút đơn đặt hàng mới thể hiện ở tình trạng tiếp tục giảm của cả tổng số lượng đơn đặt mới và số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới vào đầu quý 2 của năm. Tốc độ giảm tổng số lượng đơn đặt hàng mới đã nhanh hơn so với kỳ khảo sát trước, trong khi số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu giảm với tốc độ chậm hơn.
Số lượng đơn đặt hàng mới giảm cho phép các công ty có thể tiếp tục giải quyết lượng công việc tồn đọng khiến chỉ số này giảm tháng thứ tư liên tiếp. Trong khi đó, tồn kho hàng thành phẩm tăng với mức độ lớn nhất trong thời gian hai năm.
Các nhà sản xuất tiếp tục giảm số lượng nhân viên, xuất phát từ cả tình trạng nghỉ việc không có người thay thế và việc cắt giảm việc làm do giảm khối lượng công việc. Hơn nữa, tốc độ giảm là mạnh nhất trong thời gian một năm rưỡi.
Các công ty cũng giảm mua hàng hóa đầu vào trong tháng 4, và đây là lần giảm thứ hai liên tiếp. Nhu cầu hàng hóa đầu vào giảm đã giúp thời gian giao hàng trung bình rút ngắn lần thứ tư liên tiếp. Một số công ty cũng cho biết hoạt động vận tải cải thiện đã giúp nâng cao hiệu suất hoạt động của người bán hàng.
Với hoạt động mua hàng hóa đầu vào giảm, tồn kho hàng mua đã giảm lần thứ tư liên tiếp. Tuy nhiên, kỳ vọng tích cực về tương lai đã khuyến khích một số công ty tăng thêm hàng tồn kho, từ đó tốc độ giảm tổng thể chỉ là nhẹ.
Tâm lý tích cực phản ánh hy vọng rằng tình trạng nhu cầu yếu kém hiện nay sẽ chỉ là tạm thời, và việc phục hồi sẽ diễn ra trong năm tới. Mặc dù vậy, mức độ lạc quan là thấp nhất trong năm tính đến thời điểm này.
Tốc độ tăng chi phí đầu vào chậm lại tháng thứ hai liên tiếp trong tháng 4, trở thành tốc độ yếu nhất trong thời kỳ tăng kéo dài 35 tháng hiện nay khi có một số báo cáo cho biết giá nguyên vật liệu đã giảm. Ở những nơi chi phí đầu vào tăng, các công ty thường cho rằng việc tăng giá là xuất phát từ mặt hàng nhiên liệu và dầu.
Tình trạng giảm áp lực chi phí kết hợp với tình hình nhu cầu yếu đã khiến giá cả đầu ra giảm, từ đó kết thúc thời kỳ tăng giá kéo dài ba tháng. Giá bán hàng giảm ở tất cả các lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng, hàng hóa trung gian và hàng hóa đầu tư cơ bản.
Bình luận về kết quả khảo sát, ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, cho biết ngành sản xuất của Việt Nam hiện có vẻ như đang đi qua một giai đoạn trì trệ khi các công ty gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đơn đặt hàng mới.
Tuy nhiên, các công ty vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong thời gian một năm tới, mặc dù tâm ký kinh doanh đã giảm khi số lượng đơn đặt hàng mới đã giảm trong những tháng gần đây. Các nhà sản xuất đã bắt đầu hạ giá bán hàng để cố gắng kích thích nhu cầu, và áp lực chi phí giảm đã giúp họ giảm giá dễ dàng hơn. Trên thực tế, giá cả đầu vào đã tăng với tốc độ chậm nhất trong gần ba năm.
Sự hiện diện của các sản phẩm OCOP và đặc sản xứ Lạng tại Không gian 62 Tràng Tiền không chỉ mang đến trải nghiệm ẩm thực độc đáo cho người dân Thủ đô, mà còn tạo sức bật mạnh mẽ cho hàng Việt thông qua sự kết hợp giữa trưng bày trực tiếp và livestream thương mại điện tử...
Chính phủ Ấn Độ đã chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Quyết định này không chỉ tạo cơ hội đa dạng hóa thị trường, nâng cao giá trị sầu riêng Việt Nam mà còn góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác nông nghiệp, thương mại giữa hai nước...
Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Dù vậy, ngành vẫn gặp khó do giá giảm và rào cản thương mại gia tăng. Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu toàn ngành đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao chất lượng sản phẩm để vượt qua thách thức, quyết tâm hoàn thành mục tiêu xuất khẩu trên 74 tỷ USD cả năm 2026...
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Chuỗi sản xuất toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của chính sách thuế quan, AI và yêu cầu an toàn chuỗi cung ứng. Trước sự dịch chuyển cạnh tranh từ chi phí giá rẻ sang năng lực công nghệ của các nền kinh tế lớn, Việt Nam cần nâng chất dòng vốn FDI, hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp và phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa làm chủ các công đoạn giá trị cao...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.