Tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Giảm chồng chéo, đo hiệu quả bằng chất lượng sống người dân

Đồng tình với chủ trương tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị giảm đầu mối, thủ tục trung gian, tăng phân cấp và chuyển mạnh sang đánh giá hiệu quả bằng kết quả thụ hưởng thực chất của người dân.

Chương trình kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, phiên thảo luận tại tổ sáng 19/8. Ảnh: Quốc hội
Chương trình kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, phiên thảo luận tại tổ sáng 19/8. Ảnh: Quốc hội

Sáng 19/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, tại các tổ thảo luận, nhiều đại biểu Quốc hội tập trung cho ý kiến về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

Đa số ý kiến tán thành chủ trương tích hợp, cho rằng đây là bước đổi mới phương thức quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực nhà nước, góp phần khắc phục tình trạng chương trình phân tán, chồng chéo về đối tượng, địa bàn và thủ tục thực hiện.

Đại biểu Nguyễn Thị Thủy, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên, cho rằng việc tích hợp các chương trình có phạm vi, đối tượng và địa bàn gần nhau sẽ tạo “tổng xung lực” trong đầu tư của Nhà nước, giảm khâu trung gian và hạn chế lãng phí.

Theo đại biểu, thay vì tồn tại các chương trình độc lập, việc tích hợp cần được thiết kế theo logic chính sách chung, chuẩn hóa từ mục tiêu, đối tượng, địa bàn, nguồn lực đến sản phẩm đầu ra; đồng thời giảm đầu mối, văn bản và thủ tục trung gian, gắn với phân cấp mạnh theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

GIẢM VĂN BẢN, THỦ TỤC TRUNG GIAN

Từ thực tiễn triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia thời gian qua, nhiều đại biểu cho rằng điểm nghẽn không chỉ nằm ở nguồn lực mà chủ yếu ở cơ chế tổ chức thực hiện.

Đại biểu Trần Vũ Khiêm, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị, chỉ ra tình trạng cùng một địa bàn khó khăn, cùng một hộ nghèo nhưng có thể có tới 3-4 chương trình cùng tiếp cận, mỗi chương trình lại có tiêu chí, định mức và quy trình khác nhau. Việc thiết kế quá nhiều dự án, tiểu dự án khiến nguồn lực bị phân tán trong khi quy định lồng ghép còn phức tạp.

Các đại biểu tham dự Phiên thảo luận. Ảnh: Quốc hội.
Các đại biểu tham dự Phiên thảo luận.  Ảnh: Quốc hội.

Một bất cập khác là hệ thống văn bản và các tầng quản lý trung gian quá nhiều. Theo đại biểu, giai đoạn vừa qua các bộ, ngành Trung ương đã ban hành khoảng 200 văn bản hướng dẫn; nhiều quy định chưa sát thực tế phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần, dẫn tới tình trạng “vốn chờ dự án, kinh phí chờ nhiệm vụ”.

Đại biểu Lê Hoàng Hải, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đồng Nai, cũng lưu ý dù Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, nhưng chương trình chưa được phân bổ nguồn lực do thiếu cơ sở pháp lý, nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và các văn bản hướng dẫn.

Do đó, ngay sau khi việc tích hợp được Quốc hội phê duyệt, đại biểu đề nghị Chính phủ sớm ban hành các quy định về tiêu chí, phương pháp, thời gian thực hiện, đánh giá kết quả đầu ra, trách nhiệm cập nhật, chia sẻ dữ liệu và cơ chế quản lý để địa phương có thể triển khai ngay, tránh tình trạng nghị quyết đã ban hành nhưng thực tế vẫn chậm.

Cùng quan điểm, đại biểu Đặng Bích Ngọc, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ, đề nghị khẩn trương rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để hình thành một khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, giảm chồng chéo và tăng phân cấp cho cơ sở.

Với các dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản như đường giao thông nông thôn, kênh mương, nhà văn hóa, một số đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế đặc thù, giao trọn gói nguồn lực cho cấp xã hoặc tạo điều kiện để cộng đồng dân cư trực tiếp tham gia thực hiện.

CHUYỂN TỪ “ĐO GIẢI NGÂN” SANG ĐO KẾT QUẢ THỤ HƯỞNG

Một vấn đề được nhiều đại biểu nhấn mạnh là phương thức đánh giá hiệu quả chương trình cần thay đổi căn bản.

Theo các đại biểu, thành công của Chương trình mục tiêu quốc gia không nên chỉ được đo bằng số vốn đã phân bổ, tỷ lệ giải ngân hay số lượng công trình hoàn thành, mà cần đánh giá tác động cuối cùng tới đời sống người dân.

Đại biểu Huỳnh Kim Minh Tâm, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, dẫn vấn đề y tế cơ sở để cho thấy yêu cầu này. Theo đại biểu, việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hay đào tạo bác sĩ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là khả năng thu hút, duy trì nhân lực chuyên môn làm việc lâu dài tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Các đại biểu tại Phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: Quốc hội.
Các đại biểu tại Phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: Quốc hội.

Vì vậy, kết quả không chỉ được tính bằng số cơ sở hoặc trang thiết bị được đầu tư mà phải thể hiện ở khả năng người dân thực sự tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng ngay tại nơi sinh sống.

“Mục tiêu phát triển không chỉ là tạo thêm công trình hay tăng thêm nguồn lực mà là để người dân được khỏe mạnh hơn, người yếu thế được bảo vệ tốt hơn và chất lượng con người Việt Nam ngày càng được nâng lên”, quan điểm tại phiên thảo luận nhấn mạnh.

Đại biểu Trần Mạnh Huy, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, đề nghị dữ liệu của chương trình phải được phân tách theo nhóm mục tiêu, lĩnh vực, nguồn vốn, địa bàn và đối tượng thụ hưởng.

Theo đại biểu, không thể chỉ đo chương trình bằng tỷ lệ giải ngân mà phải đánh giá được thu nhập có tăng hay không, việc làm có bền vững hay không, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa có được cải thiện và nhóm dân cư nào vẫn chưa thực sự được thụ hưởng.

Các đại biểu cũng đề nghị đẩy mạnh số hóa toàn diện quá trình quản lý chương trình, xây dựng cơ sở dữ liệu số dùng chung kết nối từ Trung ương tới cơ sở; số hóa việc theo dõi tiến độ giải ngân, định danh đối tượng thụ hưởng và lấy kết quả đầu ra làm căn cứ điều chuyển nguồn vốn linh hoạt.

RÀ SOÁT ĐẦU TƯ BẢO TÀNG, THƯ VIỆN, TRÁNH DÀN TRẢI

Liên quan các mục tiêu về văn hóa, một số đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ mục tiêu đến năm 2030, 100% các tỉnh có trung tâm văn hóa, thể thao, bảo tàng và thư viện.

Đại biểu Nguyễn Trung Kiên, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đồng Nai, cho rằng nếu chỉ đầu tư cơ sở vật chất mà không có phương thức quản trị hiệu quả sẽ có nguy cơ gây lãng phí. Thay vì chỉ tập trung xây dựng các công trình vật lý, cần tăng đầu tư cho thư viện điện tử, bảo tàng điện tử và ứng dụng công nghệ số.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 15 (Đoàn ĐBQH TP. Đà Nẵng, tỉnh Phú Thọ). Ảnh: Quốc hội.
Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 15 (Đoàn ĐBQH TP. Đà Nẵng, tỉnh Phú Thọ). Ảnh: Quốc hội.

Đại biểu Nguyễn Công Hoàng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên, đề nghị quy hoạch lại hệ thống bảo tàng thay vì xây mới hoặc mở rộng tràn lan. Việc tích hợp các bảo tàng và ứng dụng công nghệ số có thể vừa tăng quy mô, sức hấp dẫn của điểm đến, vừa giảm áp lực đầu tư công, tiết kiệm đất đai và tài sản nhà nước.

Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Hải Long, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, đề nghị rà soát toàn bộ các nội dung liên quan đến thư viện, bảo tàng theo hướng nội dung thiết thực cần tiếp tục đầu tư, nội dung không còn phù hợp cần loại bỏ, tránh việc tích hợp 4 chương trình chỉ mang tính cơ học.

Liên quan nguồn lực, dự thảo Nghị quyết xác định tổng mức vốn 808.558 tỷ đồng và giao Chính phủ quyết định cơ cấu từng nguồn. Đại biểu Trần Mạnh Huy đồng tình với việc trao cho Chính phủ sự chủ động trong điều hành, song đề nghị xác định rõ các cấu phần lớn của nguồn lực cũng như giới hạn điều chỉnh giữa chi đầu tư công và chi thường xuyên.

Theo đại biểu, Chính phủ có thể chủ động cơ cấu lại nguồn lực trong giới hạn Quốc hội quyết định, nhưng không làm thay đổi tổng vốn đầu tư, mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, mức độ ưu tiên và những nội dung thuộc chủ trương đầu tư. Cách tiếp cận này nhằm vừa bảo đảm linh hoạt trong điều hành, vừa giữ rõ thẩm quyền quyết định ngân sách và chủ trương đầu tư của Quốc hội.

Nâng năng suất, mở rộng dư địa tăng trưởng

Trong quá trình tái định hình mô hình tăng trưởng, năng suất số, tăng trưởng xanh và thể chế cùng tạo nền tảng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế...

Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất theo Nghị quyết 21-NQ/TW

Nghị quyết 21-NQ/TW khẳng định Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất trên cơ sở dữ liệu, phương pháp khoa học, công khai, minh bạch; không để bị thao túng giá, hình thành giá ảo. Đây là một trong những nội dung then chốt, cần được nhận thức đúng và thể chế hóa chặt chẽ khi sửa đổi Luật Đất đai.

Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy