TP.Hồ Chí Minh vừa có văn bản kiến nghị Bộ Xây dựng xem xét bổ sung cơ chế cho phép bán thương mại vật liệu xây dựng được khai thác theo các cơ chế đặc thù đã được Chính phủ ban hành (Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025), sau khi hoàn thành nghĩa vụ cung cấp cho các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
PHÁT SINH BẤT CẬP TỪ QUÁ TRÌNH KHAI THÁC THỰC TẾ
Đề xuất nói trên được kỳ vọng sẽ tháo gỡ bất cập phát sinh trong quá trình thực hiện, nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên và bổ sung nguồn cung cho thị trường vật liệu xây dựng.
Theo Công văn số 24140/SXD-KTVLXD ngày 06/7/2026 gửi Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng TP.Hồ Chí Minh cho rằng thực tiễn triển khai các cơ chế đặc thù thời gian qua đã góp phần tháo gỡ tình trạng thiếu nguồn vật liệu phục vụ nhiều công trình hạ tầng trọng điểm. Tuy nhiên, quá trình khai thác cũng bộc lộ những vướng mắc mới, làm giảm hiệu quả sử dụng tài nguyên và ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
Vẫn theo Sở Xây dựng Thành phố, các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết của Chính phủ được ban hành nhằm rút ngắn thủ tục cấp phép, bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng cho các dự án trọng điểm quốc gia và công trình hạ tầng cấp bách. Trên cơ sở đó, nhiều mỏ đá, cát, đất san lấp đã được cấp phép khai thác với quy trình rút gọn, góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án giao thông và hạ tầng kỹ thuật.
Thế nhưng, trong quá trình thực hiện đã xuất hiện khoảng trống về cơ chế tiêu thụ đối với phần vật liệu không sử dụng hết cho các công trình thuộc phạm vi áp dụng cơ chế đặc thù. Chẳng hạn, hoạt động khai thác và chế biến đá xây dựng luôn tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm với quy cách khác nhau; trong khi từng công trình chỉ sử dụng một số chủng loại vật liệu nhất định theo yêu cầu thiết kế. Điều này dẫn đến việc phát sinh lượng vật liệu còn lại không thuộc nhu cầu của dự án.
Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh phân tích: “Thực tế triển khai cho thấy nhiều doanh nghiệp khai thác khoáng sản chưa thật sự mạnh dạn áp dụng cơ chế đặc thù do vẫn còn tâm lý e ngại về thủ tục, phương án tiêu thụ và hiệu quả đầu tư khi thực hiện nâng công suất khai thác. Các chủ mỏ chủ yếu đề nghị nâng công suất theo cơ chế thông thường, không xin áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 66.4 (đã cụ thể hóa vào khoản 1a, điều 55 Luật Địa chất Khoáng sản sửa đổi, bổ sung năm 2025) do cơ chế này chỉ cho phép cung cấp cho công trình vốn ngân sách, không được bán thương mại. Trong khi đó, sản phẩm đá sau chế biến có nhiều chủng loại, nhưng công trình trọng điểm chỉ sử dụng một số loại nhất định (đá 1x2, 4x6, mi bụi…), dẫn đến phát sinh sản lượng dôi dư”.
Vẫn theo Sở Xây dựng Thành phố, vật liệu khai thác theo cơ chế đặc thù chỉ được sử dụng cho các dự án được phép áp dụng cơ chế này, chưa được phép tiêu thụ trên thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp không thể bán thương mại phần vật liệu còn dư, dù toàn bộ khối lượng đều được khai thác hợp pháp và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN
Thành phố cho rằng đây là bất cập lớn trong quá trình thực thi chính sách. Bởi không chỉ làm tăng chi phí lưu kho, bảo quản và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, mà còn khiến hiệu quả khai thác tài nguyên chưa được phát huy đầy đủ. Và trên thực tế cũng đã khiến nhiều doanh nghiệp e ngại khi tham gia cơ chế đặc thù do đầu ra của sản phẩm chưa được bảo đảm.
Việc không được tiêu thụ phần vật liệu còn dư, ngoài ra, cũng làm giảm hiệu quả khai thác tổng thể của các mỏ đã được cấp phép, trong khi nhu cầu vật liệu xây dựng trên thị trường vẫn duy trì ở mức cao để phục vụ các dự án dân dụng, công nghiệp và hạ tầng ngoài phạm vi đầu tư công.
Từ thực tiễn trên, TP.Hồ Chí Minh kiến nghị Bộ Xây dựng xem xét cho phép doanh nghiệp được bán thương mại hay điều chuyển sang các công trình trọng điểm khác phần vật liệu xây dựng còn lại, sau khi đã bảo đảm đầy đủ nhu cầu của các dự án thuộc cơ chế đặc thù.
Việc bổ sung quy định này không làm thay đổi mục tiêu ban đầu của cơ chế đặc thù là ưu tiên nguồn vật liệu cho các công trình trọng điểm, mà chỉ giải quyết phần vật liệu phát sinh ngoài nhu cầu thực tế của dự án. Đề xuất cũng hướng tới sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên đã được khai thác hợp pháp, hạn chế lãng phí trong quá trình sản xuất; đồng thời tạo thêm nguồn cung cho thị trường vật liệu xây dựng.
Thành phố đồng thời kiến nghị bổ sung cơ chế rút gọn hoặc thực hiện đồng thời các thủ tục về khoáng sản, đất đai, môi trường và đầu tư đối với các dự án khai thác khoáng sản phục vụ trực tiếp công trình trọng điểm nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị và sớm bổ sung nguồn vật liệu cho các công trình. Kiến nghị bổ sung cơ chế đặc thù đối với hoạt động khai thác cát tại hồ chứa nước, hồ thủy lợi và các khu vực nạo vét có tiềm năng, nhằm tạo thêm nguồn cung vật liệu phục vụ các công trình trọng điểm.
Việc hoàn thiện cơ chế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp khai thác khoáng sản, tạo động lực để các đơn vị tiếp tục tham gia cung cấp vật liệu cho các dự án trọng điểm trong thời gian tới, giúp phát huy đầy đủ hiệu quả của các cơ chế đặc thù đã được Chính phủ ban hành.
Từ công nghệ, AI, bán dẫn, năng lượng sạch đến nông nghiệp, khoáng sản quan trọng và hàng không vũ trụ, Canada đang giới thiệu một hệ sinh thái cơ hội ngày càng đa dạng cho doanh nghiệp Việt Nam. Với sự hiện diện chính thức của Chi nhánh Hà Nội thuộc Hiệp hội Thương mại Canada tại Việt Nam (CanCham), cơ hội thúc đẩy đầu tư ngày càng rộng mở...
Cảng Hàng không Quốc tế Gia Bình đang bước vào giai đoạn chuẩn bị quan trọng hướng tới APEC 2027, không chỉ hoàn thiện hạ tầng mà còn thiết kế vận hành, công nghệ và trải nghiệm hiện đại, áp dụng chuẩn mực quốc tế. Được định hướng trở thành Trung tâm Kinh tế Hàng không thế hệ mới 2.0, sân bay Gia Bình đồng thời cho thấy cách nguồn lực tư nhân đang tham gia ngày càng sâu vào các dự án hạ tầng chiến lược, góp phần nâng cao năng lực kết nối và vị thế quốc tế của Việt Nam.
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chứng kiến những sự chuyển dịch sâu sắc, Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) đang đứng trước cơ hội lịch sử để nâng tầm mối quan hệ hợp tác đầu tư...
8 tháng năm 2026, kinh tế thành phố Cần Thơ ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực, trong đó sản xuất công nghiệp tăng 9,8%, thu hút mới 26 dự án đầu tư, với hơn 41.427 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước...
Báo cáo cho thấy chi phí bình quân mà người lao động di cư phải chi trả để có được việc làm ở nước ngoài đã giảm 23,8%, từ mức 164,9 triệu đồng trong năm 2021 xuống chỉ còn 125,7 triệu đồng trong năm 2025...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.