Việt Nam thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu tại Hội nghị SB64
NNgọc Lan
Chọn cỡ chữ
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Hội nghị SB64 tại thành phố Bonn, Cộng hòa Liên bang Đức. Ảnh: UNFCCC
Từ ngày 8-18/6, Hội nghị lần thứ 64 của hai Cơ quan bổ trợ trực thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu là Ban Bổ trợ Khoa học và Công nghệ (SBSTA 64) và Ban Bổ trợ Thực hiện (SBI 64) - gọi chung là Hội nghị SB64 - chính thức diễn ra tại thành phố Bonn, Cộng hòa Liên bang Đức.
Đây được xem là bước chuẩn bị kỹ thuật và chính trị quan trọng trước Hội nghị thượng đỉnh Các bên tham gia UNFCCC lần thứ 31 (COP31), dự kiến tổ chức vào tháng 11 tại Antalya (Thổ Nhĩ Kỳ).
Đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị gồm đại diện tới từ các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Ngoại giao, Tài chính, Xây dựng.
SB64 - BƯỚC ĐỆM QUAN TRỌNG HƯỚNG TỚI COP31
Tại phiên họp toàn thể khai mạc Hội nghị SB64, ông Simon Stiell, Thư ký điều hành UNFCCC công bố tầm nhìn chiến lược dài hạn xuyên suốt từ nay đến các kỳ Hội nghị các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP) tương lai, bao gồm Antalya (COP31), Addis Ababa (COP32), COP33 và đặc biệt là kỳ Đánh giá nỗ lực toàn cầu lần thứ hai (GST2).
Ông Simon Stiell nhấn mạnh ứng phó với khủng hoảng khí hậu là “thách thức khó khăn nhất nhưng quan trọng nhất mà nhân loại từng cùng nhau thực hiện”. Do đó, ông kêu gọi các quốc gia đẩy nhanh thực hiện Hiệp định Paris, đồng thời cảnh báo việc tiếp tục phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch sẽ làm gia tăng rủi ro về lạm phát, an ninh năng lượng và thiên tai khí hậu.
Theo Ban tổ chức, Hội nghị lần này sẽ tập trung thảo luận 3 nhóm vấn đề quan trọng. Thứ nhất, thống nhất quy trình và cách thức đàm phán để đạt hiệu quả.
Thứ hai, thúc đẩy các chương trình nghị sự quan trọng như Mục tiêu thích ứng toàn cầu (GGA), các chỉ số Belém nhằm đánh giá tiến độ thực hiện GGA; giải quyết sự chậm trễ trong vận hành Quỹ Thích ứng; các giải pháp hiện thực hóa kết quả Đánh giá nỗ lực toàn cầu lần thứ nhất (GST1) và xây dựng cơ chế chuyển đổi công bằng.
Thứ ba, gắn kết chặt chẽ các cuộc thảo luận khí hậu với nền kinh tế và chương trình hành động cụ thể.
Viện nghiên cứu phát triển Đức- IDOS nhận định hội nghị SB64 là “mốc kỹ thuật quan trọng” giúp chuyển các cam kết khí hậu thành hành động cụ thể, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính khí hậu và thích ứng. Các tổ chức khí hậu tại Đức cũng nhấn mạnh vai trò của Bonn như một “trạm trung chuyển” cho các quyết định chính trị trước COP31, nơi các nội dung kỹ thuật sẽ được chuyển thành thỏa thuận cấp cao.
CHUYỂN CAM KẾT KHÍ HẬU THÀNH HÀNH ĐỘNG
Tại phiên khai mạc, nhóm các nước đang phát triển, mới nổi (G77) và Trung Quốc đưa ra ưu tiên ưu tiên hàng đầu là đề xuất thúc đẩy mạnh mẽ Mục tiêu thích ứng toàn cầu, lộ trình thích ứng và thực hiện tầm nhìn kỹ thuật chung về đo lường khí hậu. Các nước này cũng kêu gọi các nước phát triển, giàu có phải tăng gấp 3 lần nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu vào năm 2035, kèm theo công cụ và phương thức giải ngân thực tế.
Lập trường này nhanh chóng nhận được sự đồng thuận mạnh mẽ từ liên minh các quốc gia đảo nhỏ, các nước nghèo kém phát triển nhất, cùng khối các nước Mỹ Latinh và Caribe, nhóm Châu Phi, BASIC và nhóm các nước Ả Rập.
Ở chiều ngược lại, Liên minh châu Âu tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong khi đó, Liên minh các nước phát triển có mục tiêu môi trường tham vọng cao đưa ra lưu ý thận trọng rằng các thước đo dùng để đánh giá năng lực thích ứng toàn cầu chỉ nên mang tính chất tự nguyện, đồng thời phải linh hoạt để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội riêng biệt của mỗi quốc gia.
Các đồng chủ tịch COP31 là Thổ Nhĩ Kỳ và Úc cũng đặc biệt nhấn mạnh đến các nội dung liên quan đến năng lượng, từ chuyển đổi, an ninh năng lượng cho đến các thách thức trong triển khai, bên cạnh việc hoàn thiện Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu (NAPs) và tài chính cho thích ứng.
Song song với đàm phán chính thức, Thổ Nhĩ Kỳ đã đề xuất một sáng kiến tự nguyện nhằm nâng tỷ trọng điện trong tổng nhu cầu năng lượng toàn cầu lên 35% vào năm 2035, so với mức khoảng 20% hiện nay. Theo phía Thổ Nhĩ Kỳ, điện khí hóa - từ giao thông, công nghiệp đến tòa nhà sẽ giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tăng khả năng chống chịu trước biến động giá năng lượng.
Đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị SB64. Ảnh: mae.gov.vn
Đối với Việt Nam, nội dung đàm phán có mối liên hệ trực tiếp với tài chính khí hậu, tiến trình thực hiện NDC cũng như việc tăng cường năng lực quốc gia. Việt Nam có thể tiếp tục tranh thủ nguồn hỗ trợ quốc tế cho xây dựng BTR, hệ thống hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), cơ sở dữ liệu khí hậu và nâng cao năng lực thực hiện ETF. Thời gian tới, cần tiếp tục vận động đơn giản hóa thủ tục tiếp cận nguồn lực và bảo đảm các hỗ trợ tài chính cho các hoạt động báo cáo và minh bạch được duy trì liên tục.
Tại hội nghị, khối các nước nghèo và kém phát triển nhất đã bày tỏ lo ngại sâu sắc khi nội dung tổn thất, thiệt hại bị gạt ra ngoài, không được xếp thành một mục thảo luận riêng trong chương trình làm việc chính thức. Còn liên minh các nền kinh tế mới nổi quy mô lớn, các quốc gia đảo nhỏ liên tục lên tiếng cảnh báo về mức độ tàn phá ngày càng khốc liệt của các hiện tượng thời tiết cực đoan, và hối thúc quốc tế phải nhanh chóng giải ngân nguồn vốn hỗ trợ khẩn cấp.
Về khoa học, các bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa ra Báo cáo Đánh giá lần thứ 7 kịp thời để cung cấp thông tin cho Đánh giá nỗ lực Toàn cầu lần thứ hai. Điều này nhằm mục tiêu kiềm chế mức tăng nhiệt độ của Trái Đất không vượt quá ngưỡng 1,5°C.
Ngay sau khi thông qua chương trình Nghị sự SB64, các bên đã bước vào các phiên đàm phán về Hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các nước đang phát triển trong thực hiện Điều 13 Thỏa thuận Paris.
Các vấn đề thảo luận tập trung vào đánh giá mức độ hỗ trợ tài chính, kỹ thuật và nâng cao năng lực đã cấp cho các nước đang phát triển nhằm triển khai Khung minh bạch tăng cường (ETF). Cùng với đó xem xét khả năng tiếp cận nguồn lực từ Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) và các cơ chế hỗ trợ quốc tế để xây dựng Báo cáo minh bạch hai năm một lần (BTR), kiểm kê khí nhà kính và vận hành hệ thống theo dõi thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).
Giai đoạn 2026 - 2028, Hà Nội sẽ rà soát, đánh giá các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động và xây dựng đề án chuyển đổi, đăng ký, chứng nhận khu, cụm công nghiệp sinh thái. Giai đoạn 2029 - 2045, triển khai đồng bộ các giải pháp theo đề án đã được phê duyệt; phấn đấu hoàn thành chuyển đổi các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động sang mô hình sinh thái vào năm 2045…
Theo danh mục được HĐND Thành phố Hà Nội ban hành, có 13 loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện quan trắc tự động, liên tục nước thải và 5 loại hình phải quan trắc bụi, khí thải...
Chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng sẽ chính thức có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai các dự án carbon rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon. Để bảo đảm triển khai đồng bộ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư hướng dẫn phương pháp định giá carbon rừng, dự kiến ban hành trước ngày 15/7/2026...
Doanh số xe điện toàn cầu đang tăng mạnh, nhưng những tranh cãi về tác động môi trường và chuỗi cung ứng khoáng sản của pin xe điện cũng ngày càng gay gắt. Theo nhiều chuyên gia, một số chỉ trích nhằm vào pin xe điện chưa phản ánh đầy đủ những thay đổi đang diễn ra trong công nghệ sản xuất và chuỗi cung ứng của ngành...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) kết hợp với mạng lưới đường sắt đô thị (metro) là chiến lược cốt lõi để giải quyết ùn tắc và tái cấu trúc không gian. Mô hình này tập...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...