Khi các tiêu chuẩn xanh dần trở thành “hộ chiếu thương mại” của thế kỷ 21, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt: dấu chân carbon của sản phẩm bắt đầu quan trọng không kém chất lượng hay giá thành. Trong bối cảnh đó, việc Liên minh châu Âu (EU) chính thức vận hành Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) từ ngày 1/1/2026, được xem là cột mốc lớn, tạo sức ép trực diện lên các chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Theo dự báo, sẽ có khoảng 11 nhóm ngành hàng hoặc tiểu ngành hàng bị tác động bởi cơ chế CBAM, trong đó chủ yếu là các ngành hàng liên quan đến tiêu thụ năng lượng, phát thải. Những ngành hàng như nhôm, xi măng, sắt thép, hóa chất sẽ bị tác động trực tiếp, còn những ngành hàng bị liên quan gián tiếp sẽ là điện tử, chế biến thực phẩm, giấy, nhựa, may mặc…
CBAM không chỉ là một chính sách riêng lẻ mà đại diện cho xu hướng tất yếu trong chuyển dịch xanh kinh tế thế giới, nhằm ngăn chặn "carbon leakage"– hiện tượng doanh nghiệp di dời sản xuất sang các nước có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn để tránh chi phí.
EU là quốc gia tiên phong với CBAM, nhưng làn sóng này đang lan rộng. Vương quốc Anh (UK) đã chính thức công bố kế hoạch triển khai CBAM từ năm 2027, áp dụng cho nhập khẩu các sản phẩm như nhôm, xi măng, phân bón, hydro và sắt thép, nhằm bảo vệ ngành công nghiệp nội địa và thúc đẩy giảm phát thải toàn cầu. Đài Loan cũng đang có động thái nghiên cứu cơ chế tương tự CBAM, đánh lên hàng hóa nhập khẩu.
EU đang lên kế hoạch cho "CBAM 2.0"- phiên bản mở rộng, nhằm bao quát thêm khoảng 180 sản phẩm hạ lưu có nguy cơ rò rỉ carbon cao, như máy móc, thiết bị phần cứng sử dụng thép hoặc nhôm (như ô tô, máy giặt và dụng cụ).
Đề xuất này, được Ủy ban châu Âu công bố cuối năm 2025, tập trung vào ngăn chặn chuyển dịch sản xuất sang các nước có chính sách khí hậu yếu, đồng thời đơn giản hóa quy định nhập khẩu điện bằng cách sử dụng giá trị phát thải trung bình của lưới điện. CBAM 2.0 cũng nhấn mạnh hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) với các biện pháp như trì hoãn yêu cầu mua chứng chỉ hoặc đơn giản hóa thanh toán, giúp giảm gánh nặng tuân thủ.
Hiện nay, CBAM đang nhận được sự ủng hộ từ cả hai bên: cánh tả ủng hộ mạnh mẽ vì lợi ích môi trường, góp phần đạt mục tiêu Net Zero năm 2050, trong khi cánh hữu ủng hộ do tính bảo hộ thương mại, bảo vệ việc làm và ngành công nghiệp địa phương trước cạnh tranh từ hàng hóa giá rẻ nhưng phát thải cao. Xu hướng chính trị có thể dẫn đến CBAM 2.0 với sản phẩm hạ lưu và tính toán đầy đủ theo đơn vị sản phẩm trong chuỗi cung ứng được đẩy nhanh hơn nhiều, do đáp ứng cả mục tiêu môi trường của cánh tả lẫn bảo hộ thương mại của cánh hữu.
Do đó, các doanh nghiệp Việt cần xem đây là cuộc chơi buộc phải tham gia, càng chuẩn bị sớm thì càng có lợi thế dài hạn. Không những thế, giảm phát thải không nên chỉ được xem là nghĩa vụ pháp lý hay yêu cầu từ đối tác.
Nếu làm đúng và đủ, giảm phát thải giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí năng lượng, nâng cao hiệu quả vận hành, tăng giá trị thương hiệu và khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh. Quan trọng hơn, doanh nghiệp có thể tạo ra tín chỉ carbon và tham gia thị trường carbon, biến chi phí tuân thủ thành cơ hội và giá trị kinh tế.
Tận dụng tốt giai đoạn này, các doanh nghiệp Việt không chỉ giảm cú sốc chi phí khi CBAM có hiệu lực, mà còn có thể tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hơn, bền vững hơn. Khi đó, dấu chân carbon không còn là gánh nặng, mà trở thành “giấy thông hành” giúp hàng hóa Việt Nam đi xa hơn trên thị trường toàn cầu.
Từ 2026, kiểm kê khí nhà kính theo chuẩn quốc tế không chỉ tuân thủ pháp lý mà còn duy trì hợp đồng, giảm rủi ro loại khỏi chuỗi cung ứng và củng cố uy tín. Đây là công cụ quản lý dữ liệu, tối ưu vận hành và nắm bắt chuyển đổi xanh.
EU thúc đẩy minh bạch chuỗi cung ứng qua kiểm kê 3 scope, ảnh hưởng toàn cầu. CSRD/CSDDD (từ 2027) yêu cầu báo cáo carbon, lộ trình giảm thải và minh bạch nhà cung ứng. CBAM tập trung 6 ngành chính, yêu cầu phát thải theo đơn vị sản phẩm.
Doanh nghiệp cần ưu tiên 3 hành động. Thứ nhất, thực hiện kiểm kê cả 3 scope với kiểm toán độc lập. Việc thực hiện kiểm kê và kiểm toán vừa giúp đảm bảo độ tin cậy dữ liệu, tránh thuế cao từ giá trị mặc định CBAM.
Việc kiểm kê sớm sẽ giúp hỗ trợ tuân thủ không chỉ CBAM mà các quy định khác của EU như CSRD/CSDDD; đồng thời đóng góp vào các nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam. Ngoài ra, việc tính toán chính xác sớm giúp nhận diện rủi ro sớm, tối ưu chi phí năng lượng lên 20-30%.
Thứ hai, đối với tính toán với scope 3, doanh nghiệp xuất khẩu Việt cần ưu tiên sử dụng dữ liệu cụ thể từ nhà cung cấp thay vì ước tính (hoặc trung bình ngành). Do cơ chế của CBAM áp dụng mức trung bình ngành để tính thuế nếu doanh nghiệp không báo cáo được dữ liệu tin cậy, các doanh nghiệp có hành động bảo vệ môi trường tốt và có liệu tính toán minh bạch sẽ được nhận các mức thuế tốt hơn.
Đặc biệt với CBAM 2.0, nguyên tắc tính thuế trong các thiết kế hiện tại sẽ bao gồm hàm lượng các bon theo đơn vị sản phẩm, các doanh nghiệp sớm triển khai tính phát thải theo phạm dữ liệu cụ thể từ nhà cung cấp và phương pháp Product Carbon Footprint (dấu chân carbon theo đơn vị sản phẩm) sẽ có lợi thế lớn về thuế quan.
Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần sử dụng các phần mềm được Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới vì Phát triển Bền vững (WBCSD) công nhận theo tiêu chuẩn PCF quốc tế mới nhất, hiện tại là PACT 3.0. WBCSD có công bố danh sách các phần mềm như vậy trên website và theo số liệu tới tháng 1/2026 thì số lượng phần mềm đáp ứng tiêu chuẩn hiện chưa lớn. Ngoài việc giúp doanh nghiệp tính toán và đạt được các mức thuế quan thấp hơn, việc sử dụng các phần mềm như vậy còn giúp tích hợp dữ liệu thời gian thực, nâng cao hiệu quả vận hành.
Thứ ba, doanh nghiệp đánh giá rủi ro-cơ hội từ thị trường carbon và xây dựng các kịch bản giảm phát thải. Tốt nhất, các kịch bản giảm phát thải như vậy cần đáp ứng các khung quốc tế như SBTi hay 14068-1:2023. Doanh nghiệp cần nhanh chóng tuyển dụng nhân sự có chuyên môn trong lĩnh vực khí hậu và môi trường để thực hiện xây dựng các kịch bản giảm phát thải.
Tuy nhiên, để giảm phát thải thành công, doanh nghiệp cần huy động toàn thể các phòng ban vào cuộc. Việc phân bổ trách nhiệm đến từng phòng ban như sản xuất (tối ưu hóa năng lượng), logistics (chuyển đổi phương tiện xanh) và mua sắm (ưu tiên nhà cung cấp thấp phát thải).
Về quản trị, thành lập ban chỉ đạo quản trị bền vững giám sát tiến độ, đảm bảo tuân thủ quy định CBAM và báo cáo minh bạch hàng quý. Cơ chế lương thưởng nên liên kết trực tiếp với hiệu suất giảm thải, như thưởng KPI dựa trên giảm Scope 1-3 cho từng bộ phận, khuyến khích sáng tạo và trách nhiệm chung, biến mục tiêu môi trường thành động lực kinh doanh dài hạn.
Cùng với đó, dữ liệu phát thải cần được coi là tài sản cốt lõi, vì không có dữ liệu đáng tin cậy thì rất khó tiếp cận thị trường xuất khẩu, nguồn vốn xanh hay các cơ hội từ thị trường carbon.
Trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực hành động chung tay cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn, vì một hành tinh mát lành hơn. Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm sẽ được phát trực tuyến trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026…
Những yêu cầu mới về chống mất rừng, truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin trong chuỗi cung ứng tại Vương quốc Anh không chỉ tác động đến doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn liên quan trực tiếp đến người sản xuất, vùng nguyên liệu, hệ thống truy xuất nguồn gốc và khả năng cung cấp thông tin của toàn bộ chuỗi cung ứng tại Việt Nam...
Giai đoạn 2 của Dự án Trung tâm Chuyển đổi kép sẽ chuyển trọng tâm từ xây dựng công cụ, nền tảng sang đồng hành trực tiếp với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong triển khai chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào thực tế vận hành…
Dù được xem là một giải pháp hỗ trợ giảm phát thải trong một số ngành công nghiệp, nhưng công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) vẫn bị chỉ trích vì chi phí cao, chưa chắc chắn về kỹ thuật và có nguy cơ làm chậm quá trình cắt giảm phát thải tại nguồn…
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, Pháp đang chuyển trọng tâm từ phát triển công nghệ đơn lẻ sang xây dựng năng lực công nghiệp và hệ sinh thái hoàn chỉnh, từ hydrogen carbon thấp, điện hạt nhân thế hệ mới đến sản xuất thiết bị năng lượng sạch. Đây cũng là kinh nghiệm đáng chú ý đối với Việt Nam trong quá trình tìm kiếm công nghệ, vốn và mô hình hợp tác cho tăng trưởng xanh…
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục khẳng định sự coi trọng đặc biệt của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp, cũng là cơ hội để kết nối những lĩnh vực thế mạnh của Pháp về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và các ngành công nghệ chiến lược với nhu cầu phát triển mới của Việt Nam.