
“Lợi thế mà các bạn có được liên quan đến yếu tố con người. Đó là đặc tính của người Việt Nam: cần cù, quyết tâm”, nguyên Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy bình luận về lợi thế của Việt Nam, khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang đến gần.
Ông có đánh giá như thế nào về tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam kể từ khi gia nhập WTO cho đến nay?
Việt Nam là quốc gia được hưởng lợi nhiều từ toàn cầu hóa và là một ví dụ thành công về tiến trình hội nhập kể từ sau dấu mốc gia nhập WTO 10 năm trước. Việt Nam đã biết tận dụng lợi thế của mình về nguồn nhân lực và hưởng lợi trong những lĩnh vực mà nhân lực đóng vai trò quan trọng.
Tôi thấy rằng việc gia nhập của Việt Nam vào WTO là một thành công, và đã giúp Việt Nam phát triển rất tốt, thuộc nhóm các nước có tăng trưởng cao trên thế giới.
Trong nền kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển cũng không cao bằng các nước mới nổi. Ví dụ như Mỹ và Nhật có tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng từ 2-3%. Châu Âu thì thậm chí còn thấp hơn. Tôi mong rằng Việt Nam sẽ cố gắng duy trì được mức tăng trưởng đó.
Nhưng Việt Nam còn có những hạn chế gì trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, và theo ông thì cách khắc phục chúng như thế nào?
Trong việc Việt Nam gia nhập WTO, bước đầu đã có thuận lợi, đạt được mức tăng trưởng trung bình của thế giới, nhưng vẫn đứng trước và cần vượt qua nhiều thử thách như vấn đề cạnh tranh thị trường, việc doanh nghiệp tư nhân hội nhập nhanh hơn doanh nghiệp Nhà nước…
Một số những hạn chế trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cũng khiến cho tiến trình hội nhập kinh tế chậm lại. Nguyên nhân là các doanh nghiệp Nhà nước gần với quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước, và nhiều khi được quản lý bằng các lý do về mặt hành chính. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân có thể dễ thích nghi hơn.
Ngoài ra còn có vấn đề về tham nhũng, điều mà Viêt Nam không phải là ngoại lệ. Nhưng điều mà tôi muốn nói ở đây là với quãng lùi thời gian mà tôi tính được, Việt Nam đã vươn mình ra thế giới thông qua các hoạt động cải cách và mở cửa, nó đòi hỏi một tiến trình về mặt chính trị đặc biệt.
Nhưng tôi không bi quan về vấn đề này, bởi tôi nhận thấy Việt Nam có khả năng ứng phó, có quyết tâm, kì vọng, năng lực để làm điều này. Việt Nam hoàn toàn có khả năng chịu khó chịu khổ để vượt qua được những khó khăn trong quá trình đổi mới và cải cách.
Ông nói Việt Nam đang hội nhập tốt, nhưng thực tế cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang phải vượt qua những thách thức trong thương mại khi các nước phát triển đang có xu hướng áp đặt các biện pháp bảo hộ thương mại. Vậy theo ông, Việt Nam nên ứng phó như thế nào?
Điều này cũng logic và bình thường thôi. Khi mở cửa thì chắc chắn sẽ có những người e ngại xáo trộn, sợ thay đổi. Đây là một nguyên tắc khi chúng ta mở cửa cho thương mại và nó là tiền đề cho quá trình này.
Chắc chắn không có một quá trình mở cửa nào hoàn toàn thuận lợi. Bao giờ cũng có cả tích cực và tiêu cực gây khó khăn cho một số đối tượng. Vấn đề chính ở đây là làm sao tiến trình này phải được thực hiện tiến hành trong điều kiện công bằng.
Tự do thương mại là tốt nhưng thương mại công bằng còn tốt hơn. Để tiến trình này phát huy được tác dụng tối ưu thì điều quan trọng là chủ thể tham gia thương mại phải tham gia trong một tâm thế bình đẳng.
Liệu Việt Nam có đủ năng lực cạnh tranh hay không và khi tham gia cạnh tranh có bình đẳng hay không? Tôi tin là có cạnh tranh bình đẳng, bởi nếu không thì Việt Nam đã không tham gia WTO. Đây là một mô hình để đàm phán, giải quyết các vấn đề công bằng thương mại với cơ chế đa biên.
Với những quốc gia như Việt Nam thì cần phải chuẩn bị cho mình những tiêu chí ngày càng khắt khe, chặt chẽ hơn.
Theo ông, Việt Nam có những lợi thế gì trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0?
Việt Nam hiện đang ở trên mức tăng trưởng trung bình của thế giới, cao hơn cả những nước có trình độ tương đương, nghĩa là Việt Nam đã đổi mới thành công.
Lợi thế mà các bạn có được liên quan đến yếu tố con người. Đó là đặc tính của người Việt Nam: cần cù, quyết tâm.
Những vấn đề di dân, an ninh mạng sẽ có ảnh hưởng quan trọng tới quá trình hội nhập quốc tế và Việt Nam không nằm ngoài những rủi ro đó.
Trong thời gian tới, Việt Nam nên đầu tư cho công tác đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Tôi nghĩ rằng chiến lược thành công để chống lại mọi rủi ro là đầu tư vào trí tuệ.
Trong cuộc cách mạng 4.0, Việt Nam cần phát huy hơn nữa lợi thế của mình là trí tuệ và chất xám, chứ không phải lao động giá rẻ.




Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Liên bang Nga góp phần thúc đẩy hợp tác ASEAN - Nga đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thêm động lực cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nga.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Tổng thống Nga Vladimir Putin nhất trí thúc đẩy triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao, tạo đột phá trong hợp tác năng lượng, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục và giao lưu nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Đức củng cố tin cậy chính trị, tận dụng EVFTA, mở rộng hợp tác trong thương mại, đầu tư, công nghệ, kinh tế xanh và đào tạo nhân lực.
Sáng 19/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã về tới Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến công tác tham dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga tại Liên bang Nga.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Nga, đồng thời đề nghị Quỹ Đầu tư trực tiếp Nga thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực tiềm năng.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.