Trong năm 2022, khối lượng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn vào khoảng 144.500 tỷ đồng. Con số này sẽ tăng lên 271.400 tỷ đồng trong năm 2023 và 329.500 tỷ đồng đến năm 2024.
Mới đây, trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã lưu ý khả năng thanh toán nợ trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn trong thời gian tới.
Theo Bộ Tài chính, trong năm 2022, khối lượng trái phiếu đáo hạn vào khoảng 144.500 tỷ đồng, trong đó khối lượng trái phiếu bất động sản đáo hạn chiếm 43,2% (khoảng 62.470 tỷ đồng), khối lượng trái phiếu các tổ chức tín dụng đáo hạn vào khoảng 29.160 tỷ đồng, chiếm 20,2% tổng khối lượng trái phiếu đáo hạn.
Sang tới năm 2023 và năm 2024, khối lượng trái phiếu đến hạn tăng cao so hơn rất nhiều, lần lượt ở mức 271.400 tỷ đồng và 329.500 tỷ đồng. Trong đó, tổng khối lượng trái phiếu bất động sản đến hạn là 207.800 tỷ đồng, trái phiếu của các tổ chức tín dụng đến hạn là 207.500 tỷ đồng.
Như vậy, tổng khối lượng trái phiếu doanh nghiệp đến hạn trả nợ trong vòng 3 năm tiếp theo lên tới 745.400 tỷ đồng.
Trong năm 2022, khối lượng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn vào khoảng 144.500 tỷ đồng. Con số này sẽ tăng lên 271.400 tỷ đồng trong năm 2023 và 329.500 tỷ đồng đến năm 2024.
Bộ Tài chính cho biết thêm rằng hiện nay, ngoại trừ các trái phiếu bị hủy trong vụ Tập đoàn Tân Hoàng Minh, báo cáo của các tổ chức phát hành tại Sở giao dịch Chứng khoán cho thấy các doanh nghiệp vẫn đang thanh toán đầy đủ gốc, lãi trái phiếu cho nhà đầu tư.
Tuy nhiên, khối lượng phát hành tăng nhanh trong thời gian gần đây cũng tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là khối lượng đáo hạn lớn tập trung trong giai đoạn 2022-2024 và chủ yếu là trái phiếu của các doanh nghiệp bất động sản và tổ chức tín dụng.
"Với xu hướng kinh tế vĩ mô tăng trưởng ổn định, định hướng điều hành theo hướng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phục hồi và phát triển sau đại dịch, các doanh nghiệp sẽ có khả năng thanh toán đủ gốc, lãi đến hạn. Tuy nhiên, trường hợp các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán đủ gốc, lãi trái phiếu đến hạn”, Bộ Tài chính nhấn mạnh.
Trước đó, để tránh những rủi ro gặp phải, Bộ Tài chính đã tiếp tục khuyến nghị các nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cần thận trọng, tìm hiểu quy định pháp luật và năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát hành, nắm rõ những rủi ro đối với trái phiếu doanh nghiệp trước khi quyết định đầu tư và lưu ý các nội dung 5 nội dung.
Thứ nhất, trái phiếu doanh nghiệp không phải là tiền gửi ngân hàng mà trái phiếu doanh nghiệp được doanh nghiệp phát hành theo nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về khả năng trả nợ.
Theo đó, nhà đầu tư mua trái phiếu doanh nghiệp cần nhận thức rõ và chấp nhận rủi ro khi mua trái phiếu trường hợp doanh nghiệp không đảm bảo được nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trái phiếu.
Thứ hai, theo quy định của pháp luật hiện hành, trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ không phải là sản phẩm đầu tư dành cho mọi cá nhân. Loại hình đầu tư này chỉ dành cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp là những nhà đầu tư có năng lực tài chính, có kinh nghiệm đầu tư, có khả năng phân tích rủi ro và chấp nhận rủi ro khi xảy ra.
Với sự phát triển nhanh của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong thời gian gần đây, một số nhà đầu tư cá nhân tham gia mua trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, đặc biệt là trái phiếu có "mồi nhử" lãi suất cao thông qua các tổ chức phân phối như công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại.
Thứ ba, nhà đầu tư cũng cần lưu ý việc các tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán phân phối chào mời mua trái phiếu doanh nghiệp không có nghĩa là các tổ chức này đảm bảo an toàn cho việc mua trái phiếu.
Thứ tư, bảo lãnh phát hành trái phiếu không phải là bảo lãnh thanh toán trái phiếu.
Trường hợp trái phiếu doanh nghiệp được giới thiệu là có bảo lãnh thì nhà đầu tư phải lưu ý phân loại là trái phiếu đó được bảo lãnh thanh toán hay bảo lãnh phát hành.
Bảo lãnh phát hành chỉ là việc tổ chức bảo lãnh có cam kết với doanh nghiệp phát hành để phân phối số trái phiếu cần phát hành. Tổ chức bảo lãnh phát hành không có bất kỳ nghĩa vụ nào với nhà đầu tư.
Đối với bảo lãnh thanh toán, nhà đầu tư cũng cần tìm hiểu kỹ phạm vi bảo lãnh là bảo lãnh thanh toán gốc, lãi hay chỉ một phần gốc, lãi và nhà đầu tư sẽ phải chịu rủi ro đối với phần còn lại.
Thứ năm, thông tin về tài sản đảm bảo được các doanh nghiệp phát hành nêu tại bản công bố thông tin, nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ về điều kiện của tài sản đảm bảo, chất lượng, giá trị của tài sản đảm bảo và các kết về bảo đảm của doanh nghiệp phát hành.
"Đối với các tài sản đảm bảo là các dự án, tài sản hình thành trong tương lai hoặc cổ phiếu, khi thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản có nhiều biến động, giá trị tài sản đảm bảo có thể bị sụt giảm và không đủ để thanh toán gốc, lãi trái phiếu", Bộ Tài chính đưa ra lưu ý quan trọng với nhà đầu tư.
Khi doanh nghiệp kết nối hệ thống bán hàng, phần mềm quản lý hoặc nền tảng vận hành với tài khoản ngân hàng, bài toán không chỉ nằm ở việc tự động ghi nhận giao dịch. Điều doanh nghiệp cần quan tâm là dữ liệu tài khoản được truy cập như thế nào, quyền hạn được kiểm soát ra sao và hệ thống có đủ an toàn để vận hành lâu dài hay không.
Đồng USD cũng tăng trở lại sau khi dữ liệu này được công bố, gây thêm áp lực lên thị trường kim loại quý...
Các nguồn tin nói với Bloomberg rằng BOJ nhận thấy ít có sự cần thiết phải tăng lãi suất liên tiếp, vì chưa có dấu hiệu cho thấy rủi ro lạm phát tăng mạnh đột ngột...
Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Christopher Waller cho rằng xu hướng tăng của lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ đang giúp hạn chế nhu cầu, còn Chủ tịch Fed chi nhánh New York John Williams nhận định ngân hàng trung ương này có thể không cần phải tăng lãi suất trong năm 2027...
Thách thức của tín dụng xanh không chỉ nằm ở quy mô cho vay hay lãi suất, mà còn ở việc dung hòa nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư môi trường của doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm dòng tiền, khả năng trả nợ và kiểm soát rủi ro của ngân hàng...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.