Ngày 1/7/2026, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật và việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, cho biết thời gian qua, Việt Nam đã có những bước đi ban đầu trong việc định hình nền tảng cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế bạc.
Kinh tế số Việt Nam đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trong những năm qua, đặt mục tiêu đóng góp 30% GDP vào năm 2030; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng kinh tế xanh, sử dụng năng lượng tái tạo; người cao tuổi bước đầu tham gia vào quá trình lao động với tư cách chuyên gia... Tuy nhiên, khung pháp lý vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ, còn thiếu các quy định pháp luật để thúc đẩy kinh tế bạc...
Cùng với đó, trên thực tế, nền kinh tế số và kinh tế xanh, kinh tế bạc vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức mang tính thời đại (như hạ tầng số chưa đồng đều; thiếu nguồn nhân lực chất lượng; cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu còn nhiều rào cản; yêu cầu ngày càng cao về an toàn, an ninh mạng...).
Vì vậy, việc nghiên cứu, trao đổi và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, kinh tế bạc có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn trong quá trình hoạch định và hoàn thiện chính sách phát triển đất nước.
Tại Hội thảo, TS. Đào Trọng Khôi, Giảng viên Khoa Luật sư, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã phát biểu tham luận Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tài sản đối với dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế dữ liệu.
Theo TS. Đào Trọng Khôi, Luật dữ liệu 2024 là một bước đi đột phá của pháp luật Việt Nam khi trao cho chủ sở hữu dữ liệu một “quyền tài sản” đối với dữ liệu, dù vẫn cần tiếp tục thảo luận để cụ thể hoá quyền tài sản này.
Về cơ bản, có thể hình dung hai mô hình tiêu biểu: (i) mô hình quyền tài sản mạnh (quyền sở hữu dữ liệu – data ownership) trao chủ sở hữu các quyền tích cực để khai thác dữ liệu và quyền tiêu cực là một quyền loại trừ mạnh mẽ (erga omnes) ngăn cấm mọi chủ thể khác tiếp cận và khai thác dữ liệu không phép; (ii) mô hình quyền tài sản yếu (quyền dữ liệu – data rights) trao cho chủ sở hữu các quyền tích cực như truy cập, khai thác cho các chủ thể có liên quan, nhưng không bao gồm quyền tiêu cực mạnh như quyền loại trừ.
Xu thế khoa học pháp lý hiện nay đang ủng hộ hướng nghiên cứu xây dựng và phân bổ các quyền truy cập và quản trị dữ liệu, thay vì tập trung xác định chủ thể nào nên có toàn bộ quyền năng tuyệt đối với dữ liệu và loại trừ mọi chủ thể khác.
Về mặt lập pháp, Liên minh châu Âu đã tham khảo và ứng dụng một phần mô hình quyền tài sản yếu trao cho chủ sở hữu các quyền dữ liệu, hứa hẹn đem đến nhiều kinh nghiệm thực tiễn để các quốc gia khác tham khảo.
TS. Đào Trọng Khôi cho rằng cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu liên ngành pháp luật - kinh tế - công nghệ để xác định cách tiếp cận chính xác, phù hợp, tối ưu với dữ liệu, để nền kinh tế Việt Nam có thể tận dụng được tối đa sức bật từ loại tài nguyên mới và đầy hứa hẹn này.
Trong bài tham luận “Tài sản số trong nền kinh tế số: Từ nguồn lực kinh tế mới đến yêu cầu hoàn thiện pháp luật”, TS. Lê Thị Giang - Phó trưởng Bộ môn Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, nhấn mạnh tài sản số là nguồn lực kinh tế mới của nền kinh tế số, nhưng đồng thời là đối tượng pháp lý có cấu trúc phức tạp, phụ thuộc mạnh vào dữ liệu, công nghệ, nền tảng và cơ chế xác thực điện tử.
Việc Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 ghi nhận tài sản số là bước tiến quan trọng, song chưa đủ để bảo đảm tài sản số vận hành an toàn, minh bạch và hiệu quả trong giao lưu dân sự, thương mại.
Hoàn thiện pháp luật về tài sản số cần được đặt trên nền tảng của Bộ luật Dân sự, đồng thời kết nối với pháp luật giao dịch điện tử, dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ, phòng chống rửa tiền, bảo vệ người tiêu dùng, an ninh mạng và trí tuệ nhân tạo.
Định hướng phù hợp là xây dựng khung pháp luật mở, trung lập công nghệ, quản lý theo rủi ro, bảo vệ quyền tài sản và quyền nhân thân của chủ thể, tăng cường trách nhiệm của nền tảng và tạo điều kiện để tài sản số trở thành nguồn lực hợp pháp cho phát triển kinh tế số ở Việt Nam.
Người sử dụng lao động làm giả, gian lận hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp có thể bị phạt đến 20 triệu đồng với mỗi hồ sơ; nếu là tổ chức, mức phạt bằng 2 lần. Trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm còn có thể bị xử lý hình sự.
Cơ quan tố tụng đã chỉ ra việc các đối tượng đã lợi dụng việc không có sự liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý Nhà nước để thực hiện hành vi vận chuyển trái phép hơn 12.000 tỷ đồng qua biên giới...
Việc rà soát tập trung vào các lĩnh vực dược phẩm, thiết bị y tế, an toàn thực phẩm, khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế. Bộ Y tế nhấn mạnh không để những bất cập trong quản lý hoặc thực thi công vụ gây khó khăn, phát sinh chi phí bất hợp lý, ảnh hưởng quyền lợi của người dân và hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp...
Làm việc với Bộ Nội vụ về xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh, tính linh hoạt và khả năng thích ứng trong bối cảnh mới của đất nước là yêu cầu quan trọng đối với chính sách trong lĩnh vực này...
Theo Ngân hàng Thế giới, hơn 90% người lao động trong 5.000 người được khảo sát coi việc làm trên nền tảng số là nguồn thu nhập chính, song chỉ khoảng 1/5 có đóng bảo hiểm xã hội...
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Giữa núi rừng biên giới Yên Khương, đêm Trung thu năm nay trở nên đặc biệt hơn khi hơn 1.000 phần quà được trao tới các em học sinh, cùng những ước mơ nhỏ bé được lắng nghe và chắp cánh.