Giờ làm thêm luôn là một yếu tố then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và quan hệ lao động tại Việt Nam. Nhận thức rõ tầm quan trọng này, Bộ luật Lao động 2019, chính thức có hiệu lực từ năm 2021, đã kế thừa và điều chỉnh nhiều quy định, tạo ra khung pháp lý hiện hành cho vấn đề này.
VÌ SAO MỐC 200 GIỜ LÀM THÊM ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH
Trong đó, điểm khác biệt lớn nhất và được mong chờ nhất là việc mở rộng khung giờ làm thêm tối đa lên 300 giờ/năm cho một số trường hợp đặc biệt, thay vì giới hạn 200 giờ/năm áp dụng cho đa số các trường hợp khác.
Quyết định nới lỏng giới hạn giờ làm thêm lên 300 giờ/năm không phải ngẫu nhiên, mà xuất phát từ những kiến nghị, tranh luận kéo dài từ phía cộng đồng doanh nghiệp trong nhiều năm trước khi Bộ luật Lao động 2019 được thông qua.
Các doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành sản xuất, gia công xuất khẩu như dệt may, da giày, điện tử, chế biến nông lâm thủy sản, hay những lĩnh vực đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, thường xuyên đối mặt với áp lực đơn hàng lớn hoặc tính thời vụ cao.
Việc giới hạn 200 giờ/năm trước đây đôi khi gây khó khăn trong việc đáp ứng kịp thời các yêu cầu sản xuất, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và thực hiện hợp đồng. Do đó, việc mở rộng khung giờ làm thêm được kỳ vọng sẽ cung cấp sự linh hoạt cần thiết, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất và tối ưu hóa nguồn lực lao động.
Theo Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, thời gian làm thêm giờ được định nghĩa là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động. Để sử dụng người lao động làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải tuân thủ các giới hạn nghiêm ngặt.
Cụ thể, số giờ làm thêm không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày. Trong trường hợp áp dụng thời giờ làm việc bình thường theo tuần, tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không được quá 12 giờ trong một ngày. Giới hạn theo tháng cũng được quy định rõ ràng là không quá 40 giờ.
Tuy nhiên, luật cũng mở ra một số trường hợp đặc biệt được phép làm thêm không quá 300 giờ mỗi năm, nhưng các trường hợp này phải đáp ứng các điều kiện cụ thể về ngành nghề hoặc tính chất công việc.
QUYỀN LÀM THÊM GIỜ DO NGƯỜI LAO ĐỘNG TỰ QUYẾT
Một trong những điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất để người sử dụng lao động có thể tổ chức làm thêm giờ là phải được sự đồng ý của người lao động.
Sự đồng ý này không chỉ dừng lại ở việc chấp thuận làm thêm, mà còn phải bao gồm các nội dung cụ thể như thời gian làm thêm, địa điểm làm thêm và công việc làm thêm.
Các ngành được phép áp dụng giới hạn này bao gồm sản xuất, gia công xuất khẩu các sản phẩm dệt, may, da, giày, điện, điện tử, cùng với chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản. Bên cạnh đó, các ngành sản xuất và cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu, cũng như cấp, thoát nước cũng nằm trong diện được xem xét.
Giới hạn 300 giờ/năm còn áp dụng cho các trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không thể cung ứng đầy đủ, kịp thời. Đây là một điều khoản quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và hoàn thành các dự án phức tạp khi thiếu hụt nhân lực chuyên biệt.
Tương tự, những công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm, hoặc phát sinh từ các yếu tố khách quan không dự liệu trước như thiên tai, hỏa hoạn, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất cũng được phép làm thêm giờ ở mức cao hơn để đảm bảo hoạt động liên tục.
Ngoài các trường hợp nêu trên, Chính phủ cũng quy định thêm một số tình huống khác được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm, bao gồm các hoạt động cung ứng dịch vụ công, dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, dịch vụ giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, vốn là những lĩnh vực thiết yếu cần sự linh hoạt về giờ làm.
Đặc biệt, các doanh nghiệp thực hiện công việc trực tiếp sản xuất, kinh doanh với thời giờ làm việc bình thường không quá 44 giờ mỗi tuần cũng thuộc nhóm được áp dụng giới hạn 300 giờ, tạo điều kiện cho họ tối ưu hóa năng suất.
Để đảm bảo việc tổ chức làm thêm giờ tuân thủ đúng quy định pháp luật, các doanh nghiệp phải nắm vững quy trình và trách nhiệm cụ thể. Nguyên tắc cơ bản khi tổ chức làm thêm giờ là phải được sự đồng ý của người lao động.
Theo hướng dẫn tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP, trừ các trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 108 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động cần nhận được sự chấp thuận rõ ràng từ người lao động về ba yếu tố cốt lõi: thời gian làm thêm, địa điểm làm thêm và công việc cụ thể sẽ thực hiện.
Để đảm bảo tính minh bạch và quyền lợi pháp lý cho cả hai bên, sự đồng ý này có thể được lập thành văn bản riêng nhằm bảo vệ quyền tự chủ của người lao động, tránh tình trạng ép buộc làm thêm giờ.
Đối với các doanh nghiệp có nhu cầu tổ chức làm thêm giờ vượt quá giới hạn thông thường, cụ thể là từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, quy trình pháp lý yêu cầu người sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ thông báo bằng văn bản. Thông báo này cần được gửi đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Việc thông báo không chỉ là một thủ tục hành chính mà còn là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định về giờ làm thêm đặc biệt, đảm bảo quyền lợi của người lao động và duy trì trật tự trong quan hệ lao động.
MỐC 300 GIỜ LÀM THÊM LIỆU CÓ ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH?
Quyền lợi của người lao động khi làm thêm giờ là một trong những yếu tố cốt lõi đảm bảo sự công bằng và tuân thủ pháp luật lao động.
Cụ thể, mức tiền lương làm thêm giờ tối thiểu được quy định rõ ràng tùy thuộc vào thời điểm làm việc. Vào ngày thường, người lao động sẽ được trả ít nhất bằng 150% đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả. Đối với những ngày nghỉ hằng tuần, mức này tăng lên ít nhất 200%.
Đặc biệt, vào các ngày nghỉ lễ, Tết hoặc ngày nghỉ có hưởng lương, người lao động được hưởng ít nhất 300% tiền lương, chưa kể tiền lương ngày lễ, Tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
Ngoài ra, Bộ luật Lao động 2019 cũng có quy định riêng cho trường hợp làm thêm giờ vào ban đêm. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm sẽ được trả thêm ít nhất 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường, hoặc của ngày nghỉ hằng tuần, hoặc của ngày nghỉ lễ, Tết.
Đáng chú ý, quy định về giới hạn giờ làm thêm hiện nay cũng đang đứng trước khả năng tiếp tục được điều chỉnh. Trong quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động 2019, đã xuất hiện các đề xuất mở rộng hơn nữa khung giờ làm thêm, trong đó có phương án nâng giới hạn lên 400 giờ/năm.
Các đề xuất này đang được đưa ra lấy ý kiến, cho thấy bài toán cân bằng giữa nhu cầu linh hoạt của doanh nghiệp và việc bảo đảm sức khỏe, quyền lợi của người lao động vẫn tiếp tục là vấn đề được quan tâm trong quá trình hoàn thiện pháp luật lao động.
Ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ để thích ứng với những biến động của thị trường toàn cầu, biến đổi khí hậu và các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường, truy xuất nguồn gốc và phúc lợi động vật.
Việc triển khai hợp đồng lao động điện tử từ ngày 1/7/2026 không chỉ tạo thuận lợi cho người lao động và doanh nghiệp trong quá trình giao kết, thực hiện quan hệ lao động, mà còn nâng cao năng lực quản trị nhân sự dựa trên dữ liệu chuẩn xác...
Tại dự thảo lần 2, Bộ Y tế đã bỏ đề xuất công khai giá nhập khẩu thiết bị y tế. Để tránh tình trạng “thổi giá”, việc kiểm soát giá từ gốc được thực hiện bằng giải pháp khác như thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu nội bộ giữa cơ quan hải quan, thuế, y tế...
Bộ Y tế đang đề xuất Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám sức khỏe định kỳ cho các đối tượng thuộc phạm vi chi trả của quỹ, với mức tối đa cho 1 lần khám với người trên 18 tuổi không vượt quá 350.000 đồng/người mỗi năm...
Từ quy định của Luật Việc làm 2025 và Nghị định số 352/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về dịch vụ việc làm, các tổ chức dịch vụ việc làm công đang bước vào cuộc chuyển mình để hướng tới chuyên nghiệp hóa hơn trong hoạt động. Tuy nhiên, để tạo đột phá, các giải pháp cần tập trung vào những trụ cột chính là con người, công nghệ và cơ chế chính sách…
Để du lịch chăm sóc sức khỏe Việt Nam không dừng lại ở tiềm năng, việc đồng bộ thể chế, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu là yêu cầu cấp thiết. Đây là những yếu tố quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh bền vững và tạo dựng bản sắc riêng cho dòng sản phẩm này…
Sau hơn nửa năm xung đột Mỹ - Iran, những kỳ vọng rằng căng thẳng sẽ sớm hạ nhiệt, eo biển Hormuz được khai thông và giá dầu trở lại vùng 70-80 USD/thùng đang gặp nhiều thách thức. Đầu tháng 9/2026, giá dầu Brent đã tiến sát 100 USD/thùng. Nhưng điều đáng chú ý không chỉ nằm ở con số này.