“Khi tôi hỏi các tổng công ty về gia nhập tập đoàn, họ trả lời rằng đó là việc của bộ!”.
Dẫn ra ví dụ trên trong một cuộc tọa đàm gần đây, Chủ tịch Hiệp hội nhà thầu xây dựng Việt Nam Vũ Khoa nêu lên một thực tế là nhiều tổng công ty rất thờ ơ với việc tham gia vào tập đoàn kinh tế.
Trao đổi với VnEconomy về chủ đề này, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Hà Văn Hiền cho rằng sự thờ ơ của nhiều tổng công ty đối với việc tham gia vào tập đoàn kinh tế “là một thực tế”.
Băn khoăn chuyện "mẹ con"
Thưa ông, có hay không chuyện các “tổng” được chọn làm nòng cốt rất sốt sắng với việc lên tập đoàn, còn các “tổng” thuộc diện phải sáp nhập lại chẳng mặn mà gì?
Đấy là vấn đề hiện nay. Ví dụ các mô hình tập đoàn Bộ Xây dựng đang thiết kế để trình Thủ tướng phê duyệt, qua làm việc chúng tôi thấy được một thực tế đúng như vây.
Tôi ví dụ trong nhiều tổng công ty, thường là chúng ta lấy ra một tổng công ty làm nóng cốt, sau đó rồi các tổng công ty vào nữa thành tập đoàn. Tổng công ty nòng cốt vào tập đoàn thành công ty mẹ, các tổng công ty khác vào thì thành công ty con của tập đoàn.
Là tổng công ty, là công ty mẹ thì bên dưới là rất nhiều công ty thành viên và công ty mẹ đã đầu tư vào các công ty con rồi. Bây giờ tự nhiên công ty mẹ lại trở thành công ty con của anh khác… Thế thì bản thân các tổng công ty đấy, người ta không thích lắm.
Có phải vấn đề là họ sợ mất quyền lợi?
Quyền lợi thì trong sản xuất kinh doanh chưa rõ, nhưng quyền điều hành đã khác.
Tôi cũng gặp gỡ nhiều tổng công ty rồi. Người ta cũng không thích vào tập đoàn với một mô hình như vậy.
“Thích” vì quy mô lớn?
Nhiều chuyên gia cho rằng mô hình tập đoàn thực chất cũng không khác nhiều mô hình tổng công ty. Một lãnh đạo tập đoàn còn cho biết, điều lệ hoạt động của tập đoàn này không có thay đổi gì kể từ năm 1996, khi họ còn hoạt động theo mô hình tổng công ty 91…
Trên thực tế, mối quan hệ đó thể hiện bằng quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con. Bởi vì các tập đoàn kinh tế đều lấy tên là công ty mẹ. Công ty mẹ đầu tư vốn vào công ty con, công ty con đầu tư vốn vào công ty cháu…
Mối quan hệ ấy trong mô hình tập đoàn và mô hình tổng công ty giống nhau. Thế cho nên đây cũng là vấn đề về mô hình tập đoàn, cần có hướng xem xét.
Nhưng không thể phủ nhận hình thành tập đoàn, quy mô sẽ lớn hơn, sức cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh sẽ lớn hơn… Chỉ có vấn đề là quy mô như thế nào, quản trị nội bộ ra sao thì cần xem xét thêm.
Có ý kiến cho rằng việc hình thành tập đoàn thực chất là hệ quả từ một quyết định hành chính, không gắn với mong muốn chủ quan của các “tổng” cùng tham gia…
Cũng không phải như vậy đâu. Trong các văn bản Nhà nước ban hành, chúng ta đã tách bạch được mệnh lệnh hành chính với việc đầu tư bằng vốn.
Ví dụ, trước đây giữa công ty mẹ với công ty con, giữa tổng công ty với công ty thành viên của mình thì điều hành bằng mệnh lệnh hành chính nhiều. Nhưng nay, đã thay vào đấy bằng hình thức đầu tư vốn, liên quan giữa công ty mẹ với công ty con bằng đồng vốn anh đầu tư vào đấy.
Sẽ kiến nghị về quy mô và quản trị nội bộ
Trong báo cáo đánh giá giám sát tập đoàn, tổng công ty Ủy ban trình lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Những vấn đề này có được lưu ý đặc biệt?
Sơ bộ giám sát cho thấy rằng xung quanh mô hình tập đoàn hiện nay cũng còn nhiều ý kiến, kể cả về quy mô tập đoàn.
Ví dụ như hiện nay, có tập đoàn có đến 150 doanh nghiệp thành viên, mình cho là lớn. Thế rồi quản trị nội bộ trong một tập đoàn như thế nào, quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con trong tập đoàn kinh tế, quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con ở các tổng công ty như thế nào cũng còn nhiều ý kiến.
Qua giám sát thấy nổi lên một số vấn đề, ví dụ như địa vị pháp lý, quyền, rồi cơ chế hoạt động của người đại diện phần vốn Nhà nước tại các công ty con, công ty cháu như thế nào cũng còn rất nhiều vấn đề đặt ra.
Có một điều là hiện nay Nhà nước còn đang trong quá trình thí điểm thành lập tập đoàn, bây giờ còn đang trong quá trình tổng kết. Những vấn đề ấy chắc chắn sẽ được xem xét và có những điều chỉnh cho phù hợp.
Danh hiệu “Doanh nghiệp TP.Hồ Chí Minh tiêu biểu” và “Doanh nhân TP.Hồ Chí Minh tiêu biểu” sẽ được xét chọn định kỳ 2 năm một lần nhằm tôn vinh các doanh nghiệp, doanh nhân có thành tích xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và đóng góp cho sự phát triển của Thành phố.
Giữa tâm điểm của làn sóng dữ liệu và sự bùng nổ AI, giá trị của sự xác thực và tư duy phản biện từ truyền thông chính thống lại càng trở nên vô giá. Khẳng định tầm vóc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy sau hành trình 35 năm phát triển, lãnh đạo các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp hàng đầu nhấn mạnh: cơ hội lớn nhất của báo chí kinh tế lúc này là làm chủ công nghệ và chuyển dịch mạnh mẽ từ “đưa tin” sang “kiến tạo tri thức”. Đây chính là bệ phóng vững chắc giúp cộng đồng doanh nghiệp tăng tốc chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tăng trưởng bền vững; đồng thời tiếp sức cho các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tự tin vươn tầm khu vực và thế giới.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
86 doanh nhân trẻ được trao danh hiệu Doanh nhân trẻ khởi nghiệp xuất sắc và 1 doanh nhân trẻ khuyết tật được vinh danh Doanh nhân trẻ khởi nghiệp xuất sắc danh dự năm 2026...
Xét theo số lượng, Mỹ vượt xa phần còn lại của thế giới. Nước này được dự báo ghi nhận thêm gần 67.000 cá nhân siêu giàu trong giai đoạn 2021-2026, cao gần gấp ba lần mức tăng của Trung Quốc...
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Việt Nam đang từng bước làm chủ công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ; phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư, hướng đến phục vụ cộng đồng, người bệnh... Đó là hai trong số rất nhiều hạng mục mà Việt Nam đang nỗ lực trong công cuộc xây dựng nền công nghiệp hạt nhân hiện đại.