
“Qua những năm tham gia Quốc hội, tôi nghiệm thấy rằng: một Quốc hội như thế nào thì sẽ có một Chính phủ như thế ấy”. Đó là góc nhìn đáng chú ý của đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc khi ông phát biểu trên nghị trường về báo cáo của Chính phủ, hôm 7/6 vừa qua. VnEconomy xin trích đăng bài phát biểu này, tựa đề do tòa soạn đặt.
“Phương thức hoạt động của Quốc hội chúng ta là cứ nửa năm triệu tập một kỳ họp và nghe một bản báo cáo với nội dung chủ yếu là nhìn lại 6 tháng vừa qua để hướng tới mục tiêu 6 tháng tiếp theo. Thời điểm họp vào cuối tháng 5 và cuối tháng 10 mỗi năm thật lỡ dở để có dịp nhìn lại trọn vẹn từng năm... Cứ tập trung vào bản báo cáo 6 tháng một lần thì thật khó có thể nhận dạng được bức tranh toàn cảnh của đất nước.
Với tầm nhìn mỗi “nửa năm ấy”, những bản báo cáo của Chính phủ chỉ nêu lên những việc đã làm như những thành tựu đã đạt được - đưa ra một số sai sót, yếu kém gắn với những vấn đề nổi cộm mà dư luận đang quan tâm, rồi đưa ra những giải pháp thường ngắn hạn và ít mới mẻ.
Để ngắm một bức tranh toàn cảnh cần có một độ lùi về không gian và cả thời gian. Hoàn cảnh cho tôi, đến nay đã được dự khoảng hai chục phiên và đọc chừng 20 bản báo cáo của Chính phủ, để bằng cảm quan nghề nghiệp của mình nhận ra cái mạnh và cái chưa mạnh của Chính phủ.
Cái mạnh nhất của Chính phủ là “khả năng ứng biến”, “năng lực giải quyết tình huống”. Phải chăng đây là sự kế thừa của một truyền thống hình thành trong thời chiến? Năng lực ấy đã phát huy tác dụng tích cực khi chúng ta thực hiện một mục tiêu chính nghĩa, một đuờng lối đúng đắn, có sự hậu thuẫn về ý chí của toàn dân lại có tầm nhìn sáng suốt của người đứng đầu.
Cái mạnh ấy, đã giúp Chính phủ cứ 6 tháng một lần lại vượt qua được những thử thách của thực tiễn, đạt được những mục tiêu ngắn hạn và cũng vượt qua được một kỳ họp cũng là một kỳ chất vấn của Quốc hội hội để rồi lại dấn thân phấn đấu cho 6 tháng tiếp theo. Vì thế những thành tựu ấy khó bền vững và những khuyết điểm, yếu kém của Chính phủ luôn lập lại gần như là một điệp khúc không mấy thay đổi qua các báo cáo.
Nói như vậy, tôi hoàn toàn không phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ, các thành viên của Chính phủ và bộ máy của Chính phủ, cũng như chia sẻ những khó khăn khách quan từ cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính toàn cầu, cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền rất phức tạp mà Chính phủ đang phải gánh vác.
Và nói như vậy, cũng không có nghĩa là xem thường năng lực ứng phó và giải pháp tình huống. Nhưng chỉ như thế thì không đủ.
Bởi vì, nếu cứ tiếp tục như thế thì chúng ta không thể theo kịp những yêu cầu ngày càng khe khắt của sự phát triển bền vững cũng như hội nhập với thế giới đang cạnh tranh quyết liệt và đầy biến động rủi ro. Hơn thế, nó cũng không đáp ứng được mong muốn của nhân dân ngày càng có năng lực thể hiện quyền dân chủ của mình mà hoạt động của Quốc hội có trách nhiệm phải đáp ứng.
Một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ phải là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô. Vĩ mô vừa mang nội hàm về không gian (to lớn) lẫn thời gian (lâu dài).
Ta có thể đặt ra những câu hỏi: vì sao đất nước đã hòa bình gần bốn mươi năm mà con đưòng huyết mạch số một hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ “Tây” cai trị? Vì sao trên lĩnh vực công nghiệp hoá hiện đại hoá luôn được coi là mục tiêu chiến lược và được Chính phủ đầu tư nhiều nhất trong đó đặt vai trò động lực hàng đầu cho các tập đoàn nhà nước lại là lĩnh vực kém thành công nhất? Để nhắc đến một thương hiệu hay một sản phẩm công nghiệp đáng để cho thế giới biết đến dường như chưa có! Còn nhắc đến con số những thất thoát ngân sách khổng lồ gắn với những đổ vỡ của một vài tập đoàn như Vinashin, Vinalines thì có ai không xót ruột...?
Trong khi đó, như chúng ta vừa thảo luận về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thì chính những người nông dân, ngư dân vốn ít đuợc sự quan tâm đầu tư, thậm chí phải chịu đựng nhiều rủi ro, lại làm nên những thành tựu, những thương hiệu hơn hẳn công nghiệp. Nó cho thấy trên nhiều lĩnh vực quan trọng, thực tiễn đã vượt qua sự chủ động trong tầm nhìn và tầm tay quản lý?
Một ví dụ nữa, đội ngũ cán bộ công chức được tuyển chọn, đào tạo trong đó dường như ai cũng được bồi dưỡng những khoá học về “quốc phòng toàn dân” mà vẫn để hiện tượng sử dụng lao động người nước ngoài, cho thuê đất rừng hay khai thác khoáng sản, và gần đây nhất là nuôi hải sản ở ngay những vị trí trọng yếu của an ninh quốc gia, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy nhà nước?
Trong khi đó, đối với nhân dân, chính bộ máy công quyền ấy lại phải chăng quá khắt khe cảnh giác để rồi hành xử có phần vụng về, thô bạo đối với một bộ phận nhân dân, làm phương hại đến hình ảnh của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân mà chúng ta đang phấn đấu?
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế ấy, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực “lắng nghe” của Chính phủ. Nhìn lại một chặng thời gian dài hơn mỗi kỳ họp, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều vấn đề đã được cảnh báo đến từ phát biểu của nhiều nhà khoa học hay hoạt động xã hôi, trong đó có những đại biểu Quốc hội, từ rất nhiều cuộc hội thảo, đề tài nghiên cứu... mà Chính phủ còn chậm tiếp thu, để rồi thực tiễn chứng minh những lời cảnh báo ấy đã trở thành hiện thực.
Trong những hạn chế của Chính phủ ấy có trách nhiệm của Quốc hội. Vì sao khi thảo luận về Luật Phòng chống tham nhũng, nhiều vị đại biểu Quốc hội và dư luận xã hội đã can rằng không nên giao trách nhiệm đứng đầu cơ quan này cho cơ quan hành pháp, thế mà chính Quốc hội chúng ta lại thông qua luật để tới nay phải sửa lại? Vì sao từ nhiệm kỳ trước tại Quốc hội, tôi đã thấy có vị đại biểu nêu lên sự cần thiết phải xây dựng luật nhằm quản lý và phát huy vốn của nhà nước, mà Quốc hội vẫn chưa tiếp thu? Vì sao khi xảy ra những vụ việc như ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên)... chẳng thấy Quốc hội sớm vào cuộc? Tại sao xảy ra hiện tượng người Trung Quốc vào nuôi cá ngay kề địa bàn quân sự ở Cam Ranh, người phát hiện lại chỉ là báo chí...? Tất cả các bản báo cáo ngân sách Chính phủ trình, Quốc hội đều... cho qua, thì sự thất thoát ngân sách lớn như thế có trách nhiệm của Quốc hội không? Thưa Quốc hội, nói đến Quốc hội tôi cũng ý thức rằng trong đó có cả chính mình.
Từ những ý kiến trên, tôi kiến nghị: các bản báo cáo mỗi kỳ họp Quốc hội, ngoài phần báo cáo như cách viết hiện nay, Quốc hội cần hướng việc giám sát vào những vấn đề nổi bật gắn với tầm điều hành vĩ mô của Chính phủ, để thấy những tiến bộ của Chính phủ sau mỗi kỳ họp thông qua những đánh giá việc thực hiện những mục tiêu lớn và dài hạn.
Cuối cùng tôi xin nhắc lại lời của người xưa đúc kết về thuật trị nước. Đó là câu đối của một viên quan thời Hậu Lê (Hoàng Ngũ Phúc) vào một thời kỳ lịch sử rối ren đã nhắc nhở: “Nước lấy dân làm gốc, lúc bình yên, nước hãy để dân yên. Dân lấy nước làm lòng khi hữu sự dân sẽ ra gánh vác”. Thử đặt ra một câu hỏi, vào thời điểm này “khi hữu sự” liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử hào hùng hay không? Đặt lòng câu hỏi ấy, Chính phủ sẽ thấy nhiều việc cần làm”.




Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Liên bang Nga góp phần thúc đẩy hợp tác ASEAN - Nga đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thêm động lực cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nga.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Tổng thống Nga Vladimir Putin nhất trí thúc đẩy triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao, tạo đột phá trong hợp tác năng lượng, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục và giao lưu nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Đức củng cố tin cậy chính trị, tận dụng EVFTA, mở rộng hợp tác trong thương mại, đầu tư, công nghệ, kinh tế xanh và đào tạo nhân lực.
Sáng 19/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã về tới Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến công tác tham dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga tại Liên bang Nga.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Nga, đồng thời đề nghị Quỹ Đầu tư trực tiếp Nga thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực tiềm năng.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.