Theo tôi, Việt Nam cần xác định rằng với một nền kinh tế như Việt Nam hiện nay thì nguồn vốn quốc tế sẽ dần trở nên kém quan trọng hơn.
Để huy động nguồn tài chính công quốc tế, chúng tôi cho rằng Việt Nam cần tăng cường củng cố hệ thống tài chính trong nước và cải cách các thể chế chính sách tài chính để trở nên đáng tin cậy đối với người cho vay và nhà đầu tư khu vực công quốc tế.
Để huy động nguồn tài chính tư nhân quốc tế, các cơ hội đầu tư cần vừa có lợi nhuận, vừa rõ ràng và có thể dự đoán được. Ví dụ như Chính phủ Việt Nam có thể đầu tư trước vào các dự án cơ sở hạ tầng thiết yếu, đảm bảo cơ sở hạ tầng này sẵn sàng để đón dòng vốn đầu tư. Chính phủ Việt Nam cũng cần đảm bảo môi trường pháp lý an toàn nhằm thúc đẩy đầu tư tư nhân quốc tế.
Ngay từ khâu lập kế hoạch, việc ra quyết định đầu tư công nên được cơ cấu lại, thực sự nhìn vào kết quả đầu ra hơn là đầu vào, điều đó sẽ giúp thu hút đầu tư tư nhân. Tôi tin rằng chúng ta cũng cần xem xét lại cách đầu tư có thể hỗ trợ các ưu tiên phát triển quốc gia. Điều quan trọng nữa là phải đảm bảo rằng các dự án liên tỉnh, liên vùng được hỗ trợ tốt hơn.
Từ góc độ ngành, sự gắn kết chính sách có ý nghĩa quan trọng. Chúng ta cần tập trung vào sự gắn kết chính sách giữa các ngành trong giai đoạn thực hiện.
Thêm vào đó, cần xem xét năng lực của các chủ thể địa phương trong việc đảm bảo rằng chính quyền địa phương và các chủ thể địa phương có khả năng thực hiện và giám sát các dự án một cách hiệu quả.
Phát triển bền vững là một chương trình nghị sự gắn kết, được tích hợp với tất cả các mục tiêu phát triển được kết nối với nhau. Việt Nam đã làm rất tốt trong việc thực hiện các mục tiêu này, thể hiện ở sự cải thiện nhiều chỉ số phát triển. Nhiều người Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo cũng như chúng tôi cũng đã chứng kiến sự cải thiện đáng kể trong các chỉ số về giáo dục và y tế.
Đồng thời, Việt Nam đã cam kết hướng tới mục tiêu trung hòa các-bon vào năm 2050. Để làm được điều đó, cần phải thay đổi cách chúng ta đang nghĩ về con người và sự thịnh vượng trong khuôn khổ quan điểm của chính phủ.
Trong tương lai, cần nỗ lực nhiều hơn nữa để hướng tới một sự phát triển bền vững và toàn diện hơn, có tính đến quỹ đạo và mục tiêu tăng trưởng mà Việt Nam mong muốn, đồng thời bảo vệ sức khỏe của trái đất và môi trường.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50 phát hành ngày 12-12-2022. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 34-2026 phát hành ngày 24/08/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Diễn biến kinh tế vĩ mô trong tháng 7/2026 và nửa đầu tháng 8/2026 cho thấy dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam của hàng loạt tổ chức tài chính trong nước và quốc tế đã có sự “đảo chiều” đáng chú ý. Không chỉ các dự báo được điều chỉnh tăng, mà đáng lưu ý hơn là biên độ và tốc độ điều chỉnh. Diễn biến này cho thấy nền kinh tế đang đứng trước những cơ hội mới, song đồng thời vẫn phải đối mặt với không ít thách thức đan xen...
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.
Bộ Xây dựng đánh giá công tác giải ngân tại dự án cao tốc Cần Thơ - Cà Mau đang rất chậm, yêu cầu chủ đầu tư nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ nội nghiệp, điều chuyển khối lượng đối với nhà thầu chậm trễ, không có khả năng khắc phục...
Trong giai đoạn 2026 - 2030, nền kinh tế cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng 10%/năm. Tuy nhiên, ngân sách nhà nước và đầu tư công chỉ có thể gánh vác khoảng 21% số vốn khổng lồ này, phần còn lại phải huy động từ khối tư nhân và khối FDI. Thực trạng này đang đặt ra áp lực chưa từng có lên thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp…
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.