Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao, đồng thời cơ cấu kinh tế của đất nước không ngừng chuyển dịch theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Năm 2025, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam ước tính đạt mức tăng trưởng 8,02%, đưa quy mô GDP đạt khoảng 514 tỷ USD và GDP bình quân đầu người lên ngưỡng khoảng 5.026 USD. Quý 1/2026, GDP tiếp tục tăng 7,83% so với cùng kỳ của năm trước. Những kết quả này cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn đang giữ vững được động lực tăng trưởng tích cực trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động.
Tuy nhiên, cùng với tăng trưởng kinh tế, cơ cấu xã hội Việt Nam đang có sự phân hóa ngày càng rõ nét. Nếu trong giai đoạn trước, phân hóa xã hội chủ yếu được nhìn nhận qua ranh giới “nghèo - không nghèo” hoặc “nông thôn - thành thị”, thì hiện nay sự phân hóa đã trở nên đa chiều hơn.
Theo Khảo sát mức sống dân cư năm 2024, thu nhập bình quân đầu người một tháng đạt mức 5,4 triệu đồng, tăng 9,1% so với năm 2023. Sự chênh lệch thể hiện rõ qua yếu tố địa lý khi thu nhập ở khu vực thành thị vươn lên mức 6,9 triệu đồng/người/tháng, cao gấp hơn 1,5 lần so với mức 4,5 triệu đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn. Xét theo vùng lãnh thổ, Đông Nam Bộ vươn lên dẫn đầu cả nước với thu nhập bình quân đạt gần 7,1 triệu đồng/người/tháng, trong khi Trung du và miền núi phía Bắc lại ở vị trí thấp nhất với con số khiêm tốn gần 3,8 triệu đồng/người/tháng.
Cùng với đó, tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục trên đà sụt giảm khi đến năm 2024, con số này trên cả nước chỉ còn 2,3%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2023. Mặc dù đây là một thành tựu hết sức đáng ghi nhận trong công tác giảm nghèo, song nghèo đói không còn là vấn đề duy nhất. Trong cơ cấu của nghèo đa chiều năm 2024, sự thiếu hụt về việc làm chiếm tỷ trọng rất lớn với 40,3%, tiếp đó là sự thiếu hụt về trình độ giáo dục người lớn với 30,7% và vấn đề thiếu hụt dinh dưỡng chiếm 21,4%.
Thị trường lao động cũng ghi nhận những cải thiện rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều khoảng tối. Năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt khoảng 53,5 triệu người, với số người có việc làm là 52,4 triệu người; mức thu nhập bình quân của người lao động đạt 8,4 triệu đồng/tháng (tăng 8,9%), sang quý 1/2026 tiếp tục tăng lên 9,0 triệu đồng/tháng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ trong quý 1/2026 đạt 29,6%.
Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 24 tuổi lại lên tới 8,86%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ thất nghiệp chung trong độ tuổi lao động là 2,21%. Đáng lo ngại hơn, các tiêu chí về việc làm bền vững (decent work) theo tiếp cận của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO, 2026) vẫn còn là điểm nghẽn. Trong quý 1/2026, lao động có việc làm phi chính thức vẫn chiếm tới 62,2% tổng số lao động có việc làm; tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 71,1% và khu vực thành thị là 48,4%. Điều này cho thấy một bộ phận lớn người lao động Việt Nam vẫn đang thiếu hợp đồng ổn định, thiếu bảo hiểm xã hội và cơ chế bảo vệ trước rủi ro thị trường.
Trong bối cảnh đó, sự phân hóa xã hội tại Việt Nam không diễn ra theo hướng cực đoan “rất giàu - rất nghèo” trên diện rộng, mà đang hình thành 5 trục phân hóa chủ yếu và đa chiều hơn.
Thứ nhất, phân hóa theo thu nhập. Dù hệ số Gini theo thu nhập năm 2024 là 0,372, ở mức bất bình đẳng trung bình, nhưng nhóm 20% dân số có thu nhập cao nhất (11,8 triệu đồng/người/tháng) có thu nhập cao gấp 7,4 lần so với nhóm 20% dân số có thu nhập thấp nhất (1,6 triệu đồng/người/tháng). Thu nhập này quyết định trực tiếp đến khả năng đầu tư cho giáo dục, y tế, nhà ở và kỹ năng của thế hệ sau, từ đó có nguy cơ chuyển hóa thành khoảng cách cơ hội giữa các thế hệ.
Thứ hai, phân hóa theo tài sản. Sự gia tăng vai trò của bất động sản, đất đai, cổ phần và tài sản kinh doanh đang tạo ra khoảng cách lớn. Những người sở hữu tài sản có vị thế khác hẳn với những người trẻ chỉ dựa vào đồng lương, nếu giá bất động sản tăng nhanh hơn thu nhập, cơ hội đi lên của người trẻ và lao động nhập cư sẽ bị thu hẹp đáng kể.
Thứ ba, phân hóa theo địa bàn cư trú. Sự chênh lệch giữa thành thị - nông thôn và giữa các vùng miền phản ánh sự khác biệt về chất lượng hạ tầng, cơ hội việc làm và dịch vụ công. Điều này quyết định cơ hội trong tương lai của trẻ em, nếu không có chính sách phát triển vùng đủ mạnh, khoảng cách này sẽ tái sản xuất qua nhiều thế hệ.
Thứ tư, phân hóa theo kỹ năng và chất lượng việc làm. Dù lao động qua đào tạo tăng lên 29,6%, nhưng phần lớn vẫn là lao động phi chính thức. Khi nền kinh tế hướng tới giá trị gia tăng cao, lao động kỹ năng cao sẽ có nhiều cơ hội, trong khi lao động giản đơn sẽ chịu sức ép lớn từ tự động hóa.
Thứ năm, phân hóa theo khả năng tiếp cận an sinh xã hội. Dù độ bao phủ bảo hiểm y tế năm 2025 đạt 95,16% và bảo hiểm xã hội đạt 45,1% lực lượng lao động (21,53 triệu người), khoảng trống bảo hiểm xã hội vẫn còn rất lớn. Khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa (từ năm 2015) và có thể trở thành xã hội già vào năm 2035 theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, sự khác biệt giữa người có lương hưu và người không có nền tảng an sinh sẽ ngày càng rõ nét.
Từ các dạng phân hóa trên, cơ cấu tầng lớp xã hội Việt Nam hiện nay có thể được phân định và khái quát thành 5 nhóm chủ đạo.
Nhóm giàu và rất giàu dựa trên tài sản. Lực lượng này bao gồm các chủ doanh nghiệp lớn, nhà đầu tư, những người sở hữu nhiều bất động sản, cổ phần, đất đai, tài sản tài chính hoặc tài sản kinh doanh. Đây là nhóm hưởng lợi mạnh từ tăng trưởng, đô thị hóa, phát triển hạ tầng, thị trường tài chính và sự mở rộng của khu vực kinh tế tư nhân. Đặc điểm của nhóm này là nguồn lực không chỉ đến từ thu nhập lao động mà chủ yếu từ tài sản và khả năng đầu tư.
Nhóm tầng lớp trung lưu trên. Lực lượng này bao gồm: chuyên gia, quản lý, cán bộ có vị trí ổn định; doanh nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa; lao động có trình độ cao trong các lĩnh vực tài chính, công nghệ, logistics, y tế, giáo dục, dịch vụ chuyên môn và khu vực FDI. Nhóm này có thu nhập tương đối tốt, có khả năng đầu tư cho giáo dục, y tế và nhà ở, nhưng cũng chịu áp lực lớn về chi phí sinh hoạt đô thị, cạnh tranh nghề nghiệp và yêu cầu nâng cấp kỹ năng liên tục.
Nhóm tầng lớp trung lưu phổ thông và cận trung lưu. Nhóm bao gồm công chức, viên chức, nhân viên văn phòng, lao động có tay nghề, hộ kinh doanh nhỏ và các gia đình có thu nhập ổn định nhưng tích lũy chưa nhiều. Đây là nhóm đông, có vai trò quan trọng trong tiêu dùng nội địa và ổn định xã hội. Tuy nhiên, nhóm này dễ bị tổn thương khi gặp rủi ro về việc làm, bệnh tật, học phí, lãi vay mua nhà hoặc suy giảm thu nhập.
Nhóm lao động công nghiệp, dịch vụ và phi chính thức. Lực lượng này bao gồm công nhân khu công nghiệp, lao động xây dựng, vận tải, giao hàng, bán lẻ, dịch vụ ăn uống, lao động thời vụ, lao động tự do và lao động trong hộ kinh doanh nhỏ. Nhóm này đóng góp lớn vào tăng trưởng và vận hành nền kinh tế đô thị, nhưng thường có thu nhập không cao, việc làm thiếu ổn định và mức độ tham gia bảo hiểm còn hạn chế. Đây là nhóm chịu tác động mạnh trước biến động đơn hàng, tự động hóa, lạm phát và khủng hoảng kinh tế.
Nhóm nghèo, cận nghèo và dễ tổn thương. Nhóm bao gồm đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu vùng xa, nông dân quy mô nhỏ, người cao tuổi không có lương hưu, người khuyết tật, hộ chịu tác động bởi thiên tai, biến đổi khí hậu hoặc thiếu sinh kế ổn định. Mặc dù tỷ lệ nghèo đã giảm mạnh, nhóm này vẫn đối mặt với thiếu hụt đa chiều về việc làm, giáo dục, dinh dưỡng, y tế và khả năng kết nối thị trường.
Với đà tăng trưởng cao, đô thị hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, cơ cấu tầng lớp xã hội Việt Nam sẽ trải qua 5 xu hướng biến đổi mang tính bước ngoặt.
Thứ nhất, tầng lớp trung lưu sẽ tiếp tục mở rộng do sự phát triển của khu vực dịch vụ, kinh tế số và kinh tế tư nhân, nhưng sẽ phải oằn mình dưới áp lực chi phí y tế, giáo dục và nhà ở leo thang, dẫn tới nguy cơ hình thành một bộ phận “trung lưu dễ tổn thương”.
Thứ hai, khoảng cách tài sản tiềm ẩn nguy cơ trở thành trục phân tầng lớn nhất. Những người nắm giữ nhà đất và cổ phần sẽ bứt phá về vị thế, trong khi người trẻ và lao động nhập cư chỉ sống bằng tiền lương sẽ thấy cánh cửa dịch chuyển xã hội đi lên dần khép lại nếu giá nhà tiếp tục tăng phi mã.
Thứ ba, sự phân hóa kỹ năng sẽ tăng tốc dữ dội dưới tác động của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kinh tế xanh. Xã hội không chỉ phân hóa giàu - nghèo, mà còn phân định rạch ròi giữa người có khả năng học lại, thích ứng công nghệ và người bị mắc kẹt với những kỹ năng cũ.
Thứ tư, quá trình già hóa dân số đang tạo ra một đường phân hóa hoàn toàn mới, vạch rõ ranh giới giữa những người già có lương hưu, có tích lũy tài sản với những người lao động phi chính thức dễ rơi vào cảnh nghèo tương đối khi hết tuổi lao động.
Thứ năm, tác động của biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm sự phân hóa vùng miền. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, thiệt hại do biến đổi khí hậu có thể lên tới 12-14,5% GDP mỗi năm vào năm 2050 và đẩy khoảng một triệu người vào cảnh nghèo cùng cực vào năm 2030, trong đó nông dân, ngư dân và lao động phi chính thức là những đối tượng chịu rủi ro lớn nhất.
Biến đổi cơ cấu tầng lớp xã hội là hệ quả tất yếu của sự vận động nền kinh tế, mang lại những mặt tích cực như thúc đẩy tiêu dùng, đổi mới sáng tạo và nâng cao trách nhiệm giải trình của hệ thống quản trị. Tuy nhiên, nếu không được điều tiết một cách hiệu quả, quá trình này có nguy cơ biến sự khác biệt tự nhiên thành sự bất bình đẳng cơ hội, đóng cứng cấu trúc giai tầng và đặt ra 8 thách thức lớn đối với công tác quản lý và ổn định xã hội.
Một là, gia tăng sức ép đối với công bằng và niềm tin xã hội.
Hai là, làm gia tăng yêu cầu đại diện lợi ích và điều hòa xung đột xã hội. Khi cơ cấu tầng lớp đa dạng hơn, các nhóm xã hội có nhu cầu khác nhau, hệ thống quản lý phải có khả năng lắng nghe, phản hồi và cân bằng lợi ích tốt hơn, thay vì áp dụng một mô hình chính sách chung cho mọi nhóm.
Ba là, gia tăng nguy cơ hình thành nhóm lợi ích và làm sai lệch phân bổ nguồn lực nếu thiếu minh bạch, kiểm soát quyền lực và cơ chế giám sát hiệu quả. Báo cáo PAPI năm 2024 chỉ ra rằng tham nhũng vẫn là mối quan ngại hàng đầu với 22,58% người trả lời nêu ra vấn đề này.
Bốn là, tạo áp lực lớn lên quản lý đô thị, dân di cư và dịch vụ công.
Năm là, làm tăng rủi ro phát sinh các điểm nóng xã hội cục bộ do việc làm bấp bênh và an sinh chưa bao phủ đầy đủ.
Sáu là, làm gia tăng khoảng cách số và bất bình đẳng trong tiếp cận quản trị hiện đại.
Bảy là, gia tăng sức ép tài khóa và năng lực điều tiết của Nhà nước.
Tám là, nguy cơ suy giảm gắn kết xã hội nếu khoảng cách cơ hội kéo dài qua nhiều thế hệ do nguy cơ đóng cứng tầng lớp.
Để kiểm soát phân hóa xã hội và bảo đảm phát triển bao trùm, chính sách cần chuyển từ tư duy hỗ trợ đơn lẻ sang tư duy quản trị cơ hội phát triển. Trọng tâm không chỉ là giảm nghèo, mà là bảo đảm mọi nhóm dân cư có khả năng tiếp cận giáo dục, việc làm, nhà ở, an sinh và dịch vụ công chất lượng. Cụ thể:
Thứ nhất, việc giảm bất bình đẳng cơ hội phải được nâng lên thành trọng tâm tuyệt đối của chính sách xã hội. Khi nghèo tuyệt đối đã giảm mạnh, chính sách cần đi sâu vào chất lượng giáo dục phổ thông, dinh dưỡng trẻ em, y tế cơ sở, nước sạch, hạ tầng số và dịch vụ công cơ bản tại vùng khó khăn.
Thứ hai, cần kiểm soát phân hóa tài sản thông qua chính sách nhà ở và quản lý đất đai minh bạch. Phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở vừa túi tiền cho người trẻ và tầng lớp trung lưu mới nổi cần được coi là chính sách xã hội trung tâm, không chỉ là chính sách bất động sản.
Thứ ba, nâng cấp kỹ năng và chất lượng việc làm là giải pháp căn bản để hạn chế phân hóa trong dài hạn. Đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu doanh nghiệp, khu công nghiệp, kinh tế số, sản xuất xanh, logistics, dịch vụ hiện đại và khu vực kinh tế tư nhân.
Thứ tư, mở rộng bảo hiểm xã hội và an sinh cho lao động phi chính thức.
Thứ năm, tăng cường quản trị xã hội theo hướng minh bạch, phản hồi và dựa trên dữ liệu.
Thứ sáu, thúc đẩy phát triển vùng và chiến lược thích ứng khí hậu công bằng. Mọi chương trình đầu tư hạ tầng, di dời dân cư hay chuyển đổi xanh đều phải tuân thủ nguyên tắc “chuyển dịch công bằng”, không để những nhóm dễ tổn thương phải gánh chịu chi phí khắc nghiệt của quá trình phát triển.
(*) Chuyên gia Bộ Tài chính
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 25-2026 phát hành ngày 29/06/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-25-2026.htm




Nhà máy Alumax Amsterdam chính thức đi vào hoạt động tại Bắc Ninh ngày 1/7, trở thành nhà máy đóng tàu nhôm đầu tiên tại Việt Nam vận hành trên nền tảng công nghệ, thiết kế và quy trình sản xuất được chuyển giao từ Hà Lan, hướng tới sản xuất các dòng tàu đạt tiêu chuẩn châu Âu, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu...
TP. Hồ Chí Minh vừa đồng loạt khởi công 8 công trình, dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư hơn 253.033 tỷ đồng (khoảng 9,6 tỷ USD) chào mừng 50 năm Thành phố mang tên Bác. Các dự án nhằm hiện thực hóa các chủ trương, định hướng lớn của Trung ương và Thành phố, tạo nền tảng thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững trong Kỷ nguyên mới...
Bộ Xây dựng vừa có văn bản gửi UBND tỉnh Lai Châu tham gia ý kiến đối với hồ sơ Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng cao tốc Bảo Hà - Lai Châu (CT.13), trong đó đề nghị rà soát toàn diện hiệu quả đầu tư, đồng thời nghiên cứu phương án phân kỳ dự án nhằm phù hợp với nhu cầu vận tải và khả năng cân đối nguồn lực...
Luật Phục hồi, phá sản 2025 cho phép chuyển nhượng doanh nghiệp còn khả năng hoạt động trong thủ tục phục hồi và phá sản nhằm tối đa hóa giá trị tài sản. Đây là một cải cách rất quan trọng thay vì việc xé lẻ tài sản để thanh lý như trước đây…
Sau khi thực hiện sáp nhập tinh gọn theo Nghị quyết của Quốc hội, tỉnh An Giang mới trở thành một không gian kinh tế đặc biệt với những lợi thế chưa từng có. Vì vậy, tỉnh đang từng bước thực hiện bước chuyển dịch chiến lược từ “tư duy sản xuất” bán sản lượng sang “tư duy kinh tế” bán giá trị...
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức được khai trương sáng ngày 29/6/2026 tại trụ sở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.