Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, sau 7 năm thực hiện Luật Việc làm, về cơ bản Luật đã quy định cụ thể đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, với việc mở rộng đối tượng so với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 đã tạo thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện, góp phần mở rộng diện bao phủ của chính sách, bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động nói chung, người thất nghiệp nói riêng.
Tuy nhiên, tổng kết Luật sau 7 năm, Bộ cho biết việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp đã bộc lộ nhiều hạn chế. Trước hết, đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại Luật Việc làm chưa bao phủ hết tất cả đối tượng có quan hệ lao động.
Theo quy định tại Điều 43 Luật Việc làm thì đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người lao động có hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hoặc xác định thời hạn từ 3 tháng trở lên.
Do đó, người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, nhưng vẫn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong khi đây là đối tượng có nguy cơ mất việc làm cao.
Bên cạnh đó, Luật cũng chưa có quy định về trường hợp người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng có thuộc đối tượng phải đóng bảo hiểm thất nghiệp (theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2014, thời gian này không phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc), gây khó khăn trong tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp.
Ngoài ra, chưa có quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thông báo ngay cho cơ quan lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội về việc có việc làm của người lao động, nên xảy ra trường hợp người lao động đã có việc làm mà vẫn được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Luật cũng chưa có quy định về trường hợp người sử dụng lao động không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về bảo hiểm thất nghiệp, như do gặp khó khăn về tài chính, phá sản, bị rút giấy phép kinh doanh, không có người đại diện theo pháp luật…, dẫn đến chậm đóng, thiếu đóng hoặc không có khả năng đóng đầy đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động), người lao động gặp khó khăn trong việc làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp do không đủ điều kiện về đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Luật Việc làm đã quy định 1 trường hợp bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều trường hợp bảo lưu khác chưa được quy định trong Luật.
Ví dụ, bảo lưu đối với tháng đóng chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, bảo lưu đối với người lao động được xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, bảo lưu đối với người lao động bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp…, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.
Trước những thực tế trên, dự kiến sửa đổi Luật Việc làm tới đây, cơ quan soạn thảo đề xuất bổ sung một số trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Đồng thời, bổ sung các quy định về người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng không đóng bảo hiểm thất nghiệp tháng đó; bổ sung quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động phải thông báo ngay cho cơ quan lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội về việc có việc làm của người lao động.
Bên cạnh đó, sẽ bổ sung quy định việc xử lý đối với trưởng hợp người sử dụng lao động không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hiểm thất nghiệp…
Cho rằng một số quy định về bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm đã phát sinh những vướng mắc, TS. Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học, Lao động và Xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho rằng, để việc thực hiện chính sách hiệu quả hơn, cần tăng cường tư vấn dịch vụ pháp lý cho người lao động; tiếp tục hoàn thiện Luật Việc làm; dùng kinh nghiệm quốc tế để có luật tiên tiến, tốt hơn. Từ đó, hình thành văn hoá tuân thủ, thực hiện pháp luật của người sử dụng lao động trước các biến cố của thị trường lao động.
Các chính sách hỗ trợ cũng cần đồng bộ hơn, đặc biệt cần tập trung vào chức năng cơ bản của Trung tâm giới thiệu việc làm là giới thiệu, kết nối việc làm.
Về chính sách hỗ trợ học nghề cần cụ thể hơn, nâng mức hỗ trợ này lên. “Các Trung tâm Dịch vụ việc làm cần liên kết với hệ thống đào tạo nghề, các trường nghề hỗ trợ người lao động học nghề, xem đây trở thành cơ hội để họ được nâng cao tay nghề, cải thiện trình độ trong lúc thất nghiệp. Hệ thống Trung tâm Dịch vụ việc làm cần thực hiện tốt hơn vai trò đào tạo, tư vấn, hỗ trợ việc làm”, bà Hương nhấn mạnh.
Sau hơn 5 tháng triển khai, 16 doanh nghiệp sản xuất tại miền Bắc ghi nhận những cải thiện về năng suất, quy trình quản lý và ứng dụng dữ liệu thông qua hai chương trình tư vấn nhà máy thông minh và khuôn mẫu thông minh...
Hà Nội sẽ đề xuất điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội hằng tháng và mức hỗ trợ đột xuất vượt trội so với chuẩn chung của cả nước, nhằm bảo đảm tiệm cận và phù hợp với mức sống tối thiểu thực tế của Thủ đô...
Với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong tự động hóa quy trình sàng lọc, kết nối hồ sơ, Hà Nội đặt mục tiêu giảm từ 30 - 50% thời gian tuyển dụng trung bình của doanh nghiệp và thời gian chờ việc của người lao động...
Trước những băn khoăn về đề xuất hiến mô, tạng ở người dưới 18 tuổi, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đã lên tiếng nhấn mạnh hai nguyên tắc "mở" để cứu người và "chặt" để bảo vệ tối đa quyền lợi của trẻ em, đồng thời khẳng định việc hiến mô, tạng xuất phát hoàn toàn từ tinh thần tự nguyện, nhân văn và tuyệt đối không có chuyện ép buộc hay thương mại hóa...
Tại buổi họp báo chiều ngày 27/10, lãnh đạo Bộ Y tế đã thông tin về dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi), trong đó nhấn mạnh đến quy định cấm hành vi lấy bộ phận cơ thể của người dưới 18 tuổi khi còn sống...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...