Thống kê cho thấy, tính đến ngày 02/06/2026, chỉ số chung ngành ngân hàng tăng 3% so với cuối năm 2025, mức độ tăng tích cực hơn chỉ số chung VN-Index. Diễn biến tăng chỉ số ngành Ngân hàng được hỗ trợ từ nhóm Ngân hàng Quốc doanh khi nhà đầu tư phản ứng tích cực với Thông tư 79 về phát triển kinh tế nhà nước, sau năm 2025 diễn biến kém tích cực so với ngành.
Đa số cổ phiếu ghi nhận diễn biến giảm hoặc tăng không đáng kể so với cuối năm 2025, trừ một số cổ phiếu như STB, LPB, MSB có thông tin hỗ trợ riêng.
Diễn biến cổ phiếu Ngân hàng thể hiện quan điểm thận trọng của nhà đầu tư trong bối cảnh dòng tiền yếu, bị cạnh tranh bởi tiền gửi tiết kiệm. Triển vọng tăng trưởng lợi nhuận giảm tốc khi NIM thu hẹp, tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại và rủi ro nợ xấu gia tăng khi lãi suất thiết lập mặt bằng cao mới cũng là yếu tố khiến nhà đầu tư thận trọng với cổ phiếu Ngân hàng, dù hệ số định giá nhóm cổ phiếu Ngân hàng đã về mức thấp hơn so với trung bình 10 năm trở lại đây.
Theo dữ liệu của Chứng khoán SHS, P/B ngành Ngân hàng hiện ở mức 1,5x, tiếp tục giảm xuống dưới mức trung bình giai đoạn 2015- 2026 (1,7x), hiện đã tiến đến giá trị trung bình trừ 1 độ lệch chuẩn (1,4x), thể hiện giá ở vùng thấp tương đối.
Trong 10 năm trở lại đây, chỉ có 3 khoảng thời gian ngắn định giá ngành xuống thấp hơn vùng này vào giai đoạn Covid (tháng 3/2020), sự kiện Vạn Thịnh Phát (tháng 10/2022) và sự kiện thuế quan của chính phủ Mỹ (tháng 4/2025).
Xét chi tiết theo mã cổ phiếu, đa số cổ phiếu ngân hàng đang được giao dịch ở mức P/B tương đương hoặc thấp hơn mức trung bình. Nhóm cổ phiếu Big4 cũng có hệ số định giá sát với trung bình thị trường, so với mức premium thường được ghi nhận trong quá khứ.
Nhận định về triển vọng ngành, SHS cho rằng Ngân hàng Nhà nước dự kiến điều hành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng một cách thận trọng để đảm bảo kiểm soát ổn định vĩ mô với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn ngành dự báo khoảng 15-16%.
Tăng trưởng tín dụng giảm tốc so với năm 2025 do nhu cầu tín dụng bị ảnh hưởng bởi mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao và động lực tăng trưởng truyền thống là bất động sản bị giới hạn.
NIM quý 1/2026 toàn ngành đã giảm xuống gần mức thấp nhất đã ghi nhận tại năm 2014 (2,85%). Diễn biến lợi suất tài sản có sinh lời theo xu hướng tăng cho thấy Ngân hàng đang dịch chuyển chi phí đầu vào sang lãi suất cho vay.
Thống kê tại thời điểm cuối Q1/2026, đa số các khoản cho vay khách hàng sẽ được điều chỉnh lãi suất trong thời gian từ 1-6 tháng, hỗ trợ xu hướng cải thiện của lợi suất tài sản có sinh lời. Hạn mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn cũng góp phần định hướng hệ thống ngân hàng tái cơ cấu danh mục tín dụng theo hướng ưu tiên các sản phẩm có biên sinh lời cao.
NIM toàn hệ thống kỳ vọng tiếp tục chịu áp lực trong Q2/2026 và ổn định trong nửa cuối năm khi lãi suất khoản cho vay được điều chỉnh theo kỳ tính lãi và tăng trưởng tín dụng chậm lại thúc đẩy hệ thống. Ngân hàng ưu tiên dòng tín dụng vào các lĩnh vực có NIM cao hơn. Một số Ngân hàng có lợi thế về nguồn vốn kỳ vọng có NIM mở rộng nhẹ.
Về tỷ lệ nợ xấu, SHS đánh giá thận trọng về chất lượng tài sản toàn hệ thống trước áp lực tăng lãi suất cho vay. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm thấp trong bối cảnh rủi ro nợ xấu tăng khiến chi phí tín dụng có thể tăng nhẹ nhằm cải thiện bộ đệm dự phòng. Các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt sẽ được đánh giá cao hơn trong giai đoạn này.
Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của danh mục ngân hàng theo dõi được dự báo đạt 16-18%, với thu nhập lãi thuần là động lực chính.
Định giá xuống vùng an toàn của ngành trong khoảng 10 năm trở lại đây. Áp lực từ chính sách tiền tệ thận trọng, lãi suất gia tăng và xung đột địa chính trị đã khiến định giá ngành Ngân hàng liên tục điều chỉnh giảm từ trong giai đoạn quý 4/2025 và đầu năm 2026.
SHS kỳ vọng xu hướng định giá ngành trong năm 2026 tiếp tục dao động trong biên độ hẹp quanh mức +/-1 độ lệch chuẩn so với trung bình 10 năm (từ 1,4-2,0 lần) khi triển vọng tăng trưởng lợi nhuận giảm tốc khi NIM thu hẹp, tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại và rủi ro nợ xấu gia tăng khi lãi suất thiết lập mặt bằng cao mới là yếu tố khiến nhà đầu tư thận trọng. Dư địa tăng sẽ phụ thuộc vào khả năng cải thiện ROE và kiểm soát nợ xấu hiệu quả trong năm 2026.
Một số công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh. Điểm đáng chú ý là dư nợ ký quỹ trong quý 2/2026 tiếp tục tăng so với quý 1. Điều này tạo áp lực tâm lý lên thị trường khi tỷ lệ ký quỹ đang ở mức cao...
Nhà đầu tư tổ chức trong nước hôm nay mua ròng 358,3 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, khối này mua ròng 168,8 tỷ đồng.
Định giá P/E dự phóng năm 2026 ở mức 11,7x nhưng nhiều ngành đang được giao dịch ở mức thấp hơn đáng kể. Đây cũng là vùng thấp nhất về định giá, tương đương các đợt sụt giảm mạnh từng xuất hiện vào các năm 2020, 2022 và 2025...
Thêm một nhịp “dúi” chỉ số nữa xuất hiện sáng nay, thậm chí VNI có lúc xuống dưới đáy tháng 6/2026. Thanh khoản thấp ở nhịp giảm là một tín hiệu tốt, cho thấy đợt bán dữ dội nhất đã vãn.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) vừa quyết định đưa cổ phiếu HVN của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) ra khỏi diện hạn chế giao dịch kể từ ngày 14/7, sau khi hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.