Điều hành chính sách tiền tệ: Giữ vững nền móng ổn định để hỗ trợ tăng trưởng
NNguyễn Hoài
Chọn cỡ chữ
Từ đầu năm đến nay, bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và tác động mạnh đến Việt Nam, đặc biệt là điều hành chính sách tiền tệ. Sự kiên định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, không gây áp lực lên hệ thống ngân hàng; kết hợp hài hòa giữa tài khóa và tiền tệ, đã cho thấy cách tiếp cận vấn đề một cách phù hợp. Trong buổi làm việc với các ngân hàng thương mại ngày 13/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng ghi nhận thành công của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.
Giữ vững nền móng ổn định để hỗ trợ tăng trưởng. Ảnh: Ngọc Thắng
CỦNG CỐ NỀN MÓNG ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
Điểm đáng chú ý trong kết luận của Thủ tướng là cách tiếp
cận mang tính tổng thể đối với điều hành chính sách tiền tệ. Chính phủ, Thủ tướng xác định hệ thống
tiền tệ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng là “huyết mạch” của nền kinh tế, giữ
vai trò trọng yếu trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy
tăng trưởng nhanh, bền vững. Vì vậy, ưu tiên đầu tiên của Ngân hàng Nhà nước
trong quản lý, điều hành là phải hướng tới củng cố ổn định vĩ mô, bảo đảm các
cân đối lớn của nền kinh tế, tăng cường khả năng chống chịu, bảo đảm hệ thống
ngân hàng an toàn, lành mạnh, minh bạch, hiệu quả, vận hành theo nguyên tắc thị
trường; tập trung khơi thông và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho nền kinh tế.
Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu và thường xuyên cập nhật tình hình để điều hành hài hòa các mục tiêu trong ngắn hạn giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng; cập nhật các giải pháp, kịch bản điều hành đối với các công cụ chính sách tiền tệ: lãi suất, tỷ giá, , thanh khoản và tín dụng, đồng thời xác định các ngưỡng cảnh báo để phản ứng chính sách kịp thời, đúng thời điểm và đúng liều lượng.
Bối cảnh kinh tế vĩ
mô cho thấy, thời gian qua thị trường tiền tệ, ngoại hối bị tác động lớn
bởi các yếu tố bất ổn địa chính trị, chính sách thuế quan của Mỹ,
chính sách tiền tệ khó lường của các ngân hàng trung ương lớn; đặt ra
thách thức lớn, yêu cầu cao cho công tác điều hành chính sách tiền tệ trong việc cân đối
hài hòa các nhiệm vụ, mục tiêu đan xen: vừa tập trung ưu tiên kiểm soát lạm
phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực từ các cú sốc
đến ổn định kinh tế vĩ mô.
Với vai trò là cơ quan quản lý trong lĩnh vực tiền tệ,
ngân hàng, trong 7 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt,
phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng
tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác, đã góp phần quan
trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước đã điều tiết tiền tệ hợp lý để kiểm soát lạm
phát, cung ứng vốn để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường ngoại
tệ. Trong bối cảnh áp lực thanh khoản gia tăng do tăng trưởng tín dụng đạt mức
cao nhất trong 15 năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ, linh hoạt
các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để bảo đảm thanh khoản hệ thống tổ chức
tín dụng và ổn định thị trường.
TheoTS. Nguyễn Thị Mùi, Ủy viên Hội đồng Tư vấn
chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, trong bối cảnh kinh tế thế
giới biến động phức tạp, dư địa chính sách thu hẹp, yêu cầu tăng trưởng cao gắn
với ổn định vĩ mô đặt ra nhiều thách thức cho điều hành kinh tế. Với nền kinh tế có độ mở lớn và còn chịu tác
động mạnh từ biến động bên ngoài như Việt Nam, mỗi quyết định về lãi suất, tỷ
giá hay tín dụng đều có thể có tác động hai chiều.
Vì vậy, giá trị cốt lõi của điều hành chính sách tiền tệ nằm ở khả năng
lựa chọn đúng thời điểm, đúng công cụ và đúng mức độ. Về chính sách điều hành vĩ mô của Chính
phủ những tháng qua cho thấy có sự phối hợp đồng bộ, linh hoạt giữa các công cụ
chính sách, đặc biệt chính sách tài khoá phối hợp chặt chẽ, hợp lý và có hiệu
quả với chính sách tiền tệ trong việc điều hành cung tiền, tín dụng, lãi suất,
bội chi ngân sách nhà nước và nợ công, đã và đang hỗ trợ tích cực cho việc ổn định
vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.
“Chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức có thể tạo sức ép lên lạm phát, tỷ giá và giá tài sản; ngược lại, điềuhành quá chặt có thể làm suy giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp”.
TÍN DỤNG TĂNG NHƯNG DÒNG VỐN PHẢI ĐI ĐÚNG HƯỚNG
Đến
ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,26 triệu tỷ đồng,
tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Trong đó, khoảng 77,3% dư nợ nền kinh tế phục
vụ lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Tín dụng dành cho nông nghiệp, nông thôn chiếm
21,79%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 20%; tín dụng xuất khẩu và doanh
nghiệp ứng dụng công nghệ cao có mức tăng trưởng lần lượt 28,26% và 38,98%
(Ngân hàng Nhà nước)
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu điều hành tăng trưởng tín dụng bám sát mục tiêu
năm 2026 nhưng không coi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng là một “trần cứng” trong
mọi thời điểm. Vốn phải đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng
mục đích và với chi phí hợp lý; tập trung vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ
cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội, nhà ở cho
thuê, hạ tầng thiết yếu và các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia.
Đây cũng là hướng đi đã được Ngân hàng Nhà nước triển khai trong 7 tháng
đầu năm. Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng
an toàn, hiệu quả; hướng vốn vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động
lực tăng trưởng; đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi
ro. Các ngân hàng được yêu cầu đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, đơn giản hóa thủ
tục, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình cấp tín dụng và tăng cường kết nối
ngân hàng – doanh nghiệp.
Những con số này cho thấy vấn đề không chỉ là tín dụng tăng bao nhiêu,
mà quan trọng hơn là tín dụng đang được phân bổ vào đâu.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, định hướng này càng có ý nghĩa. Đây là
nhóm doanh nghiệp thường gặp nhiều trở ngại trong tiếp cận vốn, đặc biệt về tài
sản bảo đảm, hồ sơ tài chính, khả năng chứng minh dòng tiền và chi phí vốn. Vì
vậy, việc tăng khả năng tiếp cận tín dụng phải đi cùng đổi mới phương thức đánh
giá khách hàng, khai thác dữ liệu và phát triển các sản phẩm tín dụng phù hợp.
KHÔNG GÂY SỨC ÉP LÊN HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG VỀ TÍN DỤNG, LÃI SUẤT
Đáng chú ý là chỉ đạo của Thủ tướng không đặt vấn đề tăng
trưởng tín dụng, giảm lãi suất tách rời khỏi các điều kiện kinh tế vĩ mô. Thủ
tướng nêu rõ trong điều hành kinh tế vĩ mô vừa qua, Chính phủ chủ yếu sử dụng
chính sách tài khóa (giảm, giãn thuế, phí); đồng
thời quyết liệt cắt giảm thủ tục, thời gian thực hiện, chi phí tuân thủ cho nền
kinh tế, người dân và doanh nghiệp, trong đó có các ngân hàng, không gây sức ép
lên Ngân hàng Nhà nước và hệ thống ngân hàng về tín dụng, lãi suất. Song song
với đó, ngành Ngân hàng cũng cần chia sẻ trách nhiệm với người dân, doanh
nghiệp bằng các biện pháp cụ thể để ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất
cho vay và đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, đồng thời kiểm soát chặt rủi ro.
Trong nhiều năm qua, hệ thống ngân
hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ yếu của nền kinh tế. Dòng tín dụng liên tục mở
rộng, góp phần quan trọng duy trì tăng trưởng sản xuất, đầu tư và tiêu dùng.
Tuy nhiên, quy mô tín dụng ngày càng lớn cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với
ổn định tài chính trong trung và dài hạn.
Theo TS Nguyễn Thị Mùi, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, rất cần sự
“đồng tâm, hiệp lực”, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, đúng thời điểm từ các
chính sách vĩ mô. Thực tế cho thấy, áp lực đối với hệ thống ngân hàng không chỉ đến từ quy
mô tín dụng mà còn xuất phát từ chính cấu trúc nguồn vốn.
“Trong
năm 2025 và những tháng đầu năm 2026, tín dụng tăng trưởng cao hơn huy động vốn;
một phần lớn nguồn tiền gửi của khách hàng vẫn là tiền gửi ngắn hạn dưới một
năm, trong khi nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các dự án hạ
tầng, năng lượng hay công nghiệp, lại chủ yếu là vốn trung và dài hạn”
(TS. Nguyễn Thị Mùi, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia)
Khoảng cách giữa kỳ hạn huy động và kỳ hạn cho vay khiến
áp lực "lấy ngắn nuôi dài" ngày càng rõ nét, đồng thời làm thu hẹp dư
địa thanh khoản của toàn hệ thống. Mới đây, tạiĐề án Cải cách tổng thể
thị trường tài chính Việt Nam đãmở ra kỳ vọng tái cấu trúc hệ dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn, để thị
trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bảo hiểm và các quỹ đầu tư thực sự
“chia lửa” với ngân hàng.
Sự phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, đầu tư công, cải cách thể
chế và phát triển thị trường vốn sẽ tạo ra không gian lớn hơn để nền kinh tế
huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.Bên cạnh đó, để huy động nguồn lực tài
chính từ khu vực tư nhân, trước hết Nhà nước phải tạo được niềm tin và môi trường
kinh doanh an toàn, phải bảo vệ được quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do
kinh doanh, quyền thụ hưởng lợi ích chính đáng của họ, đa dạng hóa nguồn lực
tài chính doanh nghiệp và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn
một cách thuận lợi. Một nền kinh tế phát triển bền vững không thể dựa mãi vào
ngân hàng. Chúng ta cần phải cải thiện thị trường tài chính một cách toàn diện.
Cùng quan điểm, TS. Cấn Văn Lực,
Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDVcho rằng, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi
hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn
bẩy. Ông cho biết, trong các giai đoạn tăng trưởng trên 10%, tỷ lệ vốn đầu tư
toàn xã hội/GDP của nhiều quốc gia thường dao động quanh mức 39-43%.
“Việt Nam phải tái cấu trúc hệ thống
tài chính theo hướng cân bằng hơn, phát triển nhanh thị trường cổ phiếu, trái
phiếu và các quỹ đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công”
(TS. Cấn Văn Lực,
Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV)
Vị chuyên
gia này đánh giá, vốn tư nhân phải đóng góp gần hai phần ba nhu cầu đầu tư. Vì
vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn, mà còn phải mở rộng và nâng cao
hiệu quả các kênh dẫn vốn. Tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công hay
vốn đầu tư nước ngoài đều có những giới hạn riêng.
Nhìn tổng thể, cuộc làm việc của
Thủ tướng Chính phủ với hệ thống Ngân hàng gửi đến một thông điệp: điều hành
tiền tệ trong năm 2026 không phải là lựa chọn giữa ổn định và tăng trưởng, mà
là tìm ra phương thức để tăng trưởng trên nền tảng ổn định. Như Thủ tướng đã
nhấn mạnh: “muốn tăng trưởng nhanh và bền vững trong nhiều năm thì càng phải
gia cố nền móng ổn định kinh tế vĩ mô và củng cố lòng tin của người dân, doanh
nghiệp vào năng lực điều hành”.
Ở góc độ đó, nhiệm vụ của ngành ngân hàng trong thời
gian tới có thể được khái quát bằng một chuỗi yêu cầu: ổn định để tạo niềm tin;
linh hoạt để thích ứng; tín dụng đúng hướng để tạo động lực tăng trưởng; giảm
chi phí để hỗ trợ doanh nghiệp; chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả; hoàn thiện
thể chế để mở rộng không gian phát triển; và kiểm soát rủi ro để bảo vệ thành
quả tăng trưởng. Đó cũng là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần chỉ đạo của Thủ
tướng: ngân hàng không chỉ cần lớn hơn về quy mô mà phải an toàn hơn, hiệu quả
hơn và hiện đại hơn; tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát rủi ro,
chuyển đổi số phải đi đôi với an toàn dữ liệu và hội nhập phải đi đôi với năng
lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế.
Đến cuối tháng 7/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và TP. Đồng Nai đã đạt mức 6,329 triệu tỷ đồng, chiếm 31,2% tổng dư nợ tín dụng cả nước và tăng 9% so với cuối năm trước…
Tỷ giá USD/VND giảm trên thị trường liên ngân hàng và tại nhiều ngân hàng thương mại trong những phiên đầu tháng 9. Tuy nhiên, đà giảm này đứng trước phép thử từ bên ngoài khi khả năng Fed nâng lãi suất đang tăng lên, các ngân hàng trung ương nhóm G10 cũng họp trong tháng này giữa áp lực thắt chặt chính sách tiền tệ...
Tại Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam 2026” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) được vinh danh Top 10 doanh nghiệp tiêu biểu về năng lượng và môi trường xanh bền vững.
Chỉ trong hai phiên (5/9 và 7/9), tổng mức giảm phổ biến đối với giá mua, bán vàng miếng SJC là 1,6 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Với vàng nhẫn “4 số 9”, mức điều chỉnh thấp hơn, từ 1,2 triệu - 1,6 triệu đồng/lượng, tuỳ doanh nghiệp… Theo quy đổi, giá vàng trong nước cao hơn thế giới khoảng 6-8 triệu đồng/lượng
Chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm giữa Mỹ và Trung Quốc đã tăng lên mức cao nhất trong 2 thập kỷ, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ nét giữa hai thị trường trái phiếu hàng đầu thế giới…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Giá nhà vẫn là một trong những bài toán lớn của thị trường bất động sản. Nhưng phía sau câu chuyện giá nhà là một vấn đề rộng hơn: làm thế nào để người dân thực sự có cơ hội tiếp cận một nơi ở phù hợp?
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...