
Phỏng vấn ông Phạm Phan Dũng, Vụ trưởng Vụ Các ngân hàng và Tổ chức tài chính (Bộ Tài chính)
.
Thưa ông, việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (
WTO)
, rõ ràng đã tạo ra những thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam phát hành trái phiếu?
Hiện nay cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam huy động vốn ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế là rất rộng mở. Nhưng điều quan tâm nhất mà tôi muốn lưu ý các doanh nghiệp là trước hết chúng ta chú trọng đến thị trường trong nước.
Hiện nay Chính phủ đã có Nghị định 52 cho phép tất cả các doanh nghiệp đều có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu để phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Chỉ trong vòng 6 tháng sau khi Nghị định 52 ra đời, các doanh nghiệp đã huy động được khoảng gần 6.000 tỷ đồng trong đó có những doanh nghiệp như Tập đoàn Điện lực Việt Nam huy động được 5.000 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp và Tàu thuỷ huy động được 800 tỷ đồng, Tổng công ty Sông Đà huy động được 260 tỷ đồng.
Đến nay, một số ngân hàng thương mại cũng đang dự kiến sẽ phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 thông qua huy động trái phiếu trên thị trường trong nước. Như vậy, tính từ đầu năm 2006 đến nay, các doanh nghiệp đã huy động được trên 8.000 tỷ đồng để phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng của họ.
Để phát hành trái phiếu ra thị trường nước ngoài, theo ông, các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn gì?
Khó khăn lớn nhất là các doanh nghiệp Việt Nam chưa thể chứng minh được với các nhà đầu tư nước ngoài về năng lực cũng như hiệu quả kinh doanh. Chỉ có thông qua việc đánh giá hệ số tín nhiệm của các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm nước ngoài thì người ta mới yên tâm bỏ vốn đầu tư.
Như tôi đã nói, chúng ta phải nghĩ cả hai chiều, trước hết là nhu cầu của chúng ta nhưng mặt khác chúng ta phải chứng minh với nhà đầu tư là chúng ta sử dụng vốn đó có hiệu quả và có khả năng trả được nợ vay.
Ông có thể phân tích cụ thể hơn, các doanh nghiệp của chúng ta chứng minh với các nhà đầu tư nước ngoài như thế nào?
Các doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh như thông qua cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực tài chính, rồi có những phương án sản xuất kinh doanh đáp ứng các yêu cầu của thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của thị trường cả trong nước và trên thế giới.
Vấn đề cơ bản nữa mà chúng ta cần phải chứng minh với nhà đầu tư là tình hình tài chính minh bạch, để nhà đầu tư yên tâm là đồng vốn của họ phải được sử dụng một cách có hiệu quả.
Thưa ông, nhưng hiện nay, chỉ có các công ty lớn, các tổng công ty lớn tham gia phát hành trái phiếu. Làm thế nào để kênh huy động vốn này có trở nên thông dụng hơn?
Kênh thông dụng nhất mà hiện nay Chính phủ đang cho phép là Nghị định 52, cho phép tất cả các doanh nghiệp đều có thể huy động vốn trên thị trường.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, chúng ta mới chỉ quan tâm đến một chiều là làm sao để doanh nghiệp có thể huy động vốn nhưng chưa quan tâm đến việc đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư.
Nhà đầu tư trong giai đoạn hiện nay cũng mới chỉ quan tâm đến các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, những doanh nghiệp có vấn đề tài chính công khai, minh bạch. Có như vậy họ mới dám bỏ vốn ra để đầu tư.
Vì vậy, các doanh nghiệp khác trong giai đoạn hiện nay cần cố gắng nâng cao năng lực của mình thông qua việc nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao báo cáo kết quả tài chính để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư vốn thông qua hình thức mua trái phiếu của mình.
Công tác cổ phần hoá có vai trò thế nào trong việc phát triển thị trường vốn nước ta?
Vừa rồi, Thủ tướng Chính phủ đã tổng kết 3 năm việc thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và sau đó Thủ tướng cũng đã ban hành một chỉ thị yêu cầu các ngành, các địa phương đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước.
Tác dụng của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều người nói. Yêu cầu lớn nhất của công tác cổ phần hoá là thay đổi cung cách quản lý, nâng cao quản trị doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả đồng vốn trong sản xuất kinh doanh.
Ngoài nghị định 52 ra thì chúng ta có những cơ chế chính sách gì để hỗ trợ cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu?
Chính sách lớn nhất mà Nhà nước đã ban hành là Luật chứng khoán, Bộ Tài chính đang ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật chứng khoán có hiệu lực từ ngày 1/1/2007.
Đó là về chính sách, còn về thị trường thì chúng tôi khuyến cáo các doanh nghiệp lựa chọn nhiều hình thức để phát hành trái phiếu. Hình thức thứ nhất là bảo lãnh phát hành, hình thức thứ hai là đấu thầu thông qua thị trường, hình thức thứ 3 là phát hành thông qua đại lý, hình thức thứ tư là bán lẻ trực tiếp.
Về mặt thị trường, hiện nay chúng ta đã có hai trung tâm giao dịch chứng khoán đặt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.




Sự thay đổi trong triển vọng lãi suất của Mỹ đang gây ra những biến động đáng kể trên thị trường ngoại hối toàn cầu, đặc biệt là đối với các đồng tiền của các thị trường mới nổi và các nước xuất khẩu nhiều tài nguyên thiên nhiên...
Indonesia đã mất nhiều thập kỷ để khẳng định vị thế là một trong những thị trường mới nổi quan trọng nhất thế giới. Tuy nhiên, nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á hiện đối mặt nguy cơ bị MSCI hạ xếp hạng xuống nhóm thị trường cận biên...
Xu hướng mất giá của đồng yên Nhật Bản tiếp tục duy trì, đưa đồng tiền này xuống mức gần thấp nhất 40 năm...
Áp lực của hoạt động tái cơ cấu quỹ cuối phiên hôm nay giúp nhà đầu tư có điều kiện giải ngân tốt hơn khi giá lao dốc mạnh. Tuy nhiên độ rộng quá hẹp và cổ phiếu “đỏ đậm” lúc đóng cửa cho thấy bên mua chủ yếu chọn giá thấp.
Tiếp nối thành công của mùa giải đầu tiên, Chứng khoán DNSE vừa chính thức khởi động Marathon Chứng khoán mùa 2 với thể thức mới - Marathon Tiếp sức 2026, tổng giá trị giải thưởng hấp dẫn lên tới gần 550 triệu đồng.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.