Khi đô thị cần mát hơn: Cơ hội chuyển đổi xanh ngành lạnh và điều hòa không khí
TTS.Trịnh Quốc Dũng (*)
Chọn cỡ chữ
Trong bối cảnh Việt Nam vừa phải đáp ứng nhu cầu làm mát ngày càng tăng, vừa thực hiện các cam kết khí hậu và lộ trình giảm dần các chất HFC theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal, làm mát bền vững đang trở thành điểm kết nối giữa bảo vệ tầng ozone, giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng năng lượng hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu...
Việt Nam đang đứng trước nhu cầu làm mát ngày càng tăng. Ảnh: Hợp Phát
Trong những ngày nắng nóng, nhu cầu làm mát từ
căn hộ, văn phòng, trường học đến cửa hàng, phương tiện giao thông… tăng lên
cùng nhịp sống đô thị. Tuy nhiên, phía sau cảm giác dễ chịu của một căn phòng
mát mẻ là một câu chuyện lớn hơn: đô thị càng nóng, nhu cầu làm mát càng cao;
điện năng tiêu thụ tăng, tạo thêm áp lực lên hệ thống năng lượng và có thể kéo
theo phát thải khí nhà kính nếu nguồn điện vẫn phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu
hóa thạch.
Tại các thành phố, hiệu ứng đảo nhiệt đô thị,
mật độ xây dựng cao, thiếu cây xanh và mặt nước khiến nhiệt bị giữ lại lâu hơn.
Biến đổi khí hậu cũng làm các đợt nóng trở nên thường xuyên và cực đoan hơn. Từ
đó hình thành một vòng xoáy ngày càng rõ: đô thị nóng hơn nhu cầu làm mát lớn
hơn phụ tải điện tăng áp lực lên hệ thống điện tăng.
Theo tính toán của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), nhu cầu làm mát toàn cầu có thể tăng từ khoảng 22 TW năm 2022 lên 68 TW vào năm 2050 theo kịch bản thông thường (BAU), trong khi phát thải khí nhà kính liên quan đến làm mát tăng từ khoảng 4,1 lên 7,2 GtCO2e. Với kịch bản làm mát bền vững, lượng phát thải vào năm 2050 có thể giảm xuống khoảng 2,6 GtCO2e.
Đây cũng là bước phát triển mới trong câu
chuyện bảo vệ tầng ozone. Sau nhiều thập kỷ loại trừ các chất làm suy giảm tầng
ozone theo Nghị định thư Montreal, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua
năm 2016 đã mở rộng quá trình chuyển đổi của ngành lạnh sang giảm dần các chất
HFC (Hydrofluorocarbon: môi chất lạnh sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực kỹ thuật
lạnh và điều hoà không khí) có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao. Vì vậy,
chuyển đổi sang các môi chất lạnh có tác động khí hậu thấp cần được thực hiện
đồng thời với giảm nhu cầu làm mát và nâng cao hiệu quả năng lượng của thiết
bị, công trình và toàn hệ thống.
NHU CẦU LÀM MÁT NGÀY CÀNG LỚN, ĐA DẠNG
Nhu cầu làm mát ở đô thị không chỉ tăng do
nhiệt độ không khí cao hơn. Quá trình đô thị hóa cũng làm thay đổi cân bằng
nhiệt của thành phố: bề mặt bê tông và nhựa đường hấp thụ nhiệt, mật độ xây
dựng cao có thể hạn chế thông gió, trong khi nhiệt thải từ giao thông, công
trình và chính các hệ thống điều hòa tiếp tục bổ sung nhiệt vào môi trường đô
thị. Vì vậy, bài toán làm mát cần được xử lý không chỉ ở từng thiết bị hay công
trình mà cả ở quy mô khu phố và đô thị.
Việt Nam đang đứng trước nhu cầu làm mát ngày
càng tăng. Đô thị hóa, mức sống cải thiện cùng khí hậu nóng ẩm khiến điều hòa
không khí trở thành thiết bị thiết yếu trong nhiều gia đình và công trình.
Theo Bộ Công Thương và một số nghiên cứu gần
đây, thị trường điều hòa không khí dân dụng trong nước hiện ở mức 2,5-3 triệu
thiết bị mỗi năm, trong đó sản phẩm biến tần (inverter) chiếm hơn 80% thị
trường. Giai đoạn 2020-2025 có khoảng 600 mẫu sản phẩm được đăng ký dán nhãn
năng lượng.
Việc áp dụng TCVN 7830:2021 và lộ trình quản lý hiệu suất năng
lượng mới đang tạo ra một bước chuyển quan trọng. Bộ Công Thương cho biết mức
hiệu suất của các sản phẩm 4-5 sao theo tiêu chuẩn mới cao hơn khoảng 25-29% so
với trước đây. Tiềm năng tiết kiệm điện từ việc nâng cao hiệu suất điều hòa
được ước tính khoảng 7,79-20,79 TWh mỗi năm.
Ngoài nhu cầu làm mát cho nhà ở, văn phòng, khách sạn và các công trình thương mại, việc bảo đảm hệ thống làm mát cho các hạ tầng công nghệ cao ngày càng quan trọng. Ảnh: Phú Thái
Đây là mức tiết kiệm rất đáng kể. Tuy nhiên,
hiệu suất của chiếc điều hòa chỉ là một phần câu chuyện. Một thiết bị hiệu quả
vẫn có thể tiêu thụ nhiều điện nếu phải làm việc trong một công trình hấp thụ
quá nhiều nhiệt, có lớp vỏ bao che kém hoặc vận hành chưa hợp lý. Một nghịch lý
thú vị là: muốn tiết kiệm điện cho điều hòa, đôi khi cách tốt nhất lại là giảm
nhu cầu phải bật điều hòa.
Ngoài nhu cầu làm mát cho nhà ở, văn phòng,
khách sạn và các công trình thương mại, việc bảo đảm hệ thống làm mát cho các
hạ tầng công nghệ cao ngày càng quan trọng. Từ các trung tâm dữ liệu (data
center), phòng sạch, nhà máy bán dẫn, cơ sở sản xuất điện tử đến các trung tâm
nghiên cứu công nghệ đều cần hệ thống làm mát có độ tin cậy cao và vận hành gần
như liên tục. Với trung tâm dữ liệu, hệ thống làm mát phải duy trì nhiệt độ, độ
ẩm phù hợp để bảo vệ thiết bị và bảo đảm hoạt động ổn định 24/7. Khi mật độ máy
chủ và công suất tính toán tăng, đặc biệt với trí tuệ nhân tạo (AI), lượng
nhiệt cần loại bỏ cũng tăng nhanh.
Trong sản xuất bán dẫn và điện tử, kiểm soát
nhiệt độ, độ ẩm, độ sạch và chất lượng không khí của phòng sạch là một phần
không thể thiếu. Vì vậy, hệ thống HVAC (Heating Ventilating and Air
Conditioning: hệ thống sưởi ấm, thông gió và điều hòa không khí) có thể phức
tạp hơn rất nhiều so với một tòa nhà văn phòng thông thường. Các giải pháp như
chiller hiệu suất cao, làm mát tự nhiên (free cooling) phù hợp với điều kiện
khí hậu và thiết kế hệ thống, tối ưu nhiệt độ nước lạnh, điều khiển theo tải,
hệ thống quản lý tòa nhà (BMS), hệ thống quản lý hạ tầng trung tâm dữ liệu
(DCIM) và làm mát bằng chất lỏng có thể giúp giảm năng lượng dành cho quá trình
làm mát.
Khi Việt Nam phát triển kinh tế số, trung tâm
dữ liệu, điện tử và công nghiệp bán dẫn, nhu cầu làm mát sẽ không chỉ tăng về
số lượng mà còn thay đổi về chất lượng. Đây sẽ là thị trường có hàm lượng kỹ
thuật cao, đồng thời tạo nhu cầu về những thế hệ kỹ sư, kỹ thuật viên và doanh
nghiệp có khả năng kết hợp HVAC với năng lượng, điều khiển, dữ liệu, tự động
hóa và môi trường. Theo nghĩa đó, câu chuyện làm mát đang mở rộng từ “làm mát
cho con người” sang “làm mát cho nền kinh tế”.
LÀM MÁT TỐT KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI BẮT ĐẦU BẰNG
MỘT CHIẾC MÁY LẠNH
Một thành phố mát hơn không nhất thiết phải là
thành phố có nhiều máy điều hòa hơn. Trước khi nói đến năng suất lạnh, cần nói
đến cách đô thị được quy hoạch và công trình được thiết kế. Cây xanh, mặt nước,
công viên, hành lang thông gió, mái xanh, vật liệu phản xạ bức xạ mặt trời và
không gian công cộng có bóng mát có thể góp phần giảm nhiệt ở quy mô khu vực.
Ở cấp công trình, hướng nhà, che nắng, cách
nhiệt mái và tường, lựa chọn kính, thông gió tự nhiên và tổ chức không gian đều
có thể làm giảm tải lạnh. Nếu giảm được lượng nhiệt đi vào công trình ngay từ
đầu, hệ thống điều hòa sẽ cần công suất nhỏ hơn, thời gian vận hành ít hơn và
tiêu thụ điện thấp hơn.
Ở quy mô đô thị, đó là tinh thần của cách tiếp
cận “Làm mát đô thị - Urban Cooling”: kết hợp quy hoạch đô thị, các giải pháp
dựa vào tự nhiên, thiết kế công trình, hiệu quả năng lượng và công nghệ làm
mát. Thay vì chỉ tăng công suất làm lạnh, cần đồng thời tìm cách giảm lượng
nhiệt mà đô thị và công trình phải hấp thụ.
Khi nhu cầu làm mát vẫn rất lớn,
thiết bị hiệu suất cao tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Điều hòa inverter, máy
nén hiệu suất cao, quạt và bơm biến tần, VRF/VRV, chiller hiệu suất cao, điều
khiển thông minh và BMS có thể giúp giảm điện năng tiêu thụ trong suốt vòng đời
công trình.
Chuyển đổi xanh không nên dừng ở việc mua thiết bị mới, hiệu quả thực tế phụ thuộc nhiều vào thiết kế hệ thống, lựa chọn công suất, chất lượng lắp đặt, vận hành, bảo trì và sửa chữa. Một hệ thống được thiết kế tốt nhưng vận hành không đúng vẫn có thể tiêu thụ nhiều điện. Vì vậy, ngành lạnh và điều hòa không khí cần chuyển dần từ tư duy “bán thiết bị” sang cung cấp “dịch vụ làm mát hiệu quả”.
Một vấn đề không thể tách rời hiệu quả năng
lượng là môi chất lạnh. Thiết bị có hiệu suất năng lượng cao nhưng sử dụng môi
chất lạnh có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu lớn hoặc để xảy ra rò rỉ vẫn chưa
thể xem là giải pháp làm mát xanh hoàn chỉnh.
Tại Việt Nam, Quyết định số
496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024 về Kế hoạch quốc gia quản lý, loại trừ các chất làm
suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát tạo ra một
cầu nối quan trọng giữa chính sách môi chất lạnh và chuyển đổi xanh ngành lạnh.
Khung pháp lý này tiếp tục được cụ thể hóa thông qua các quy định tại Nghị định
số 119/2025/NĐ-CP, Nghị định số 83/2026/NĐ-CP và Thông tư 08/2025/TT-BNNMT.
Do đó, một hệ thống làm mát “xanh” cần được
đánh giá trong toàn bộ vòng đời: từ nhu cầu làm mát, hiệu suất sử dụng năng
lượng, lựa chọn môi chất lạnh, hạn chế rò rỉ trong vận hành và bảo dưỡng đến
thu hồi, tái sử dụng, tái chế, tái sinh hoặc xử lý khi thiết bị kết thúc vòng
đời.
Nhìn tổng thể, quá trình chuyển đổi xanh lĩnh
vực làm lạnh và điều hòa không khí đang được hình thành trên ba trụ cột có quan
hệ chặt chẽ: Giảm nhu cầu làm mát Nâng cao hiệu quả năng lượng Quản lý môi chất
lạnh, chuyển sang chất có tác động đến khí hậu thấp hơn và gắn với quản lý môi
chất lạnh trong suốt vòng đời.
TỪ LOẠI TRỪ HCFC, GIẢM DẦN HFC ĐẾN CHUYỂN ĐỔI
XANH NGÀNH LÀM MÁT
Thách thức trong giai đoạn tới không chỉ là
hoàn thiện chính sách mà còn là triển khai đồng bộ và hiệu quả các chính sách
này. Theo đó, quy hoạch đô thị và xây dựng có thể giảm nhu cầu làm mát thông
qua thiết kế thụ động và các giải pháp dựa vào tự nhiên; chính sách năng lượng
thúc đẩy thiết bị và hệ thống hiệu suất cao; chính sách hỗ trợ chuyển đổi công
nghệ hướng tới các môi chất lạnh không sử dụng HCFC (Hydrochlorofluorocarbon), đồng thời giảm dần việc sử dụng HFC; trong khi các chính sách tài chính
giúp doanh nghiệp và người dân vượt qua chi phí đầu tư ban đầu.
Chuyển đổi xanh trong ngành lạnh và điều hòa không khí không chỉ là câu chuyện giảm tiêu thụ điện mà còn mở ra một chuỗi giá trị mới.
Khi công trình cần hiệu quả hơn, thị trường sẽ cần nhiều hơn các
chuyên gia mô phỏng năng lượng, kỹ sư HVAC, đơn vị vận hành, chuyên gia BMS và
quản lý năng lượng. Khi môi chất lạnh được quản lý chặt chẽ hơn, thị trường cho
các hoạt động thu hồi, kiểm tra, tái sử dụng, tái chế và xử lý môi chất lạnh sẽ
từng bước phát triển. Khi doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến chi phí vận hành,
các mô hình ESCO (Energy Service Company: công ty/tổ chức dịch vụ năng lượng)
và dịch vụ tiết kiệm năng lượng cũng có thêm cơ hội phát triển.
Điều này đồng nghĩa với nhu cầu đào tạo một
lực lượng lao động mới. Kỹ thuật viên tương lai không chỉ cần biết lắp đặt, sửa
chữa thiết bị mà còn phải hiểu về hiệu suất năng lượng, đặc tính và yêu cầu an
toàn của các môi chất có GWP thấp, cũng như kỹ năng phòng ngừa, phát hiện rò
rỉ, thu hồi môi chất và quản lý dữ liệu vận hành.
Chuyển đổi xanh vì vậy đồng
thời là một quá trình chuyển đổi kỹ năng trong công việc, mở ra cơ hội phát
triển việc làm xanh trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí, đặc biệt khi nhu
cầu làm mát mở rộng sang trung tâm dữ liệu, điện tử, bán dẫn, y tế và công
nghiệp công nghệ cao.
CẦN CÁCH TIẾP CẬN MỚI CHO CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM
Để bài toán làm mát không trở thành một vòng
xoáy tiêu thụ năng lượng ngày càng lớn, các đô thị Việt Nam cần chuyển từ cách
tiếp cận riêng lẻ sang quản lý làm mát tích hợp.
Trước hết, cần đưa nhu cầu làm mát vào quy
hoạch và quản lý đô thị, thay vì chỉ xem đây là nhu cầu được giải quyết ở cấp
công trình hoặc hộ gia đình. Bản đồ nhiệt đô thị có thể giúp xác định những khu
vực chịu rủi ro nhiệt cao để ưu tiên cây xanh, mặt nước, bóng mát, cải tạo
không gian công cộng và các giải pháp giảm nhiệt.
Thứ hai, cần thúc đẩy nguyên tắc “ưu tiên hiệu
quả- efficiency first” trong thiết kế và cải tạo công trình: giảm tải nhiệt
trước, sau đó mới tối ưu hệ thống cơ điện và thiết bị. Đặc biệt cần quan tâm
đến khối công trình hiện hữu, nơi còn tiềm năng đáng kể để giảm tải lạnh và
nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng thông qua cải tạo lớp vỏ công trình, hệ
thống cơ điện và phương thức vận hành.
Thứ ba, cần tiếp tục nâng cao hiệu suất năng
lượng tối thiểu và hiệu quả của chương trình dán nhãn năng lượng, đi cùng với
năng lực thử nghiệm và giám sát thị trường.
Thứ tư, cần xây dựng hạ tầng thu hồi và quản
lý môi chất lạnh ở cuối vòng đời thiết bị, bảo đảm môi chất được thu hồi, tái
sử dụng, tái chế, tái sinh hoặc xử lý phù hợp.
Cuối cùng, các cơ chế như tín dụng xanh, ESCO,
hợp đồng hiệu suất năng lượng và chương trình hỗ trợ cải tạo công trình có thể
giúp thu hẹp khoảng cách về chi phí đầu tư ban đầu.
Cách bắt đầu tốt nhất là một thay đổi rất đơn giản trong tư duy: Đừng bắt đầu bằng việc làm lạnh nhiều hơn; hãy bắt đầu bằng việc làm cho đô thị nóng lên ít hơn.
Trong bối cảnh Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày
28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát
triển quốc gia trong giai đoạn mới đặt vấn đề phát triển hệ thống đô thị hiện
đại và hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, có khả năng chống chịu cao, bài toán
làm mát đô thị càng cần được nhìn nhận như một phần của quy hoạch và chất lượng
phát triển đô thị, thay vì chỉ là vấn đề của riêng ngành lạnh và điều hòa không
khí.
Làm mát là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống
hiện đại. Với một nước có khí hậu nóng ẩm như Việt Nam, điều hòa không khí sẽ
tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Vấn đề không phải là quay lưng với điều hòa,
mà là sử dụng nó thông minh hơn và đặt vào một hệ thống lớn hơn.
Mười năm sau khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali
được thông qua, câu chuyện bảo vệ tầng ozone đang bước sang một giai đoạn mới,
trong đó quá trình giảm dần các chất HFC cần được thực hiện đồng thời với nâng
cao hiệu quả năng lượng và đáp ứng nhu cầu làm mát ngày càng tăng. Với Việt
Nam, đây không chỉ là việc thực hiện các cam kết theo Nghị định thư Montreal mà
còn là cơ hội thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và
phát triển một ngành làm mát có giá trị gia tăng cao hơn.
Trong bối cảnh đó, làm mát bền vững có thể trở
thành một điểm kết nối giữa bảo vệ tầng ozone, giảm phát thải khí nhà kính, sử
dụng năng lượng hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chúng ta không thể
“điều hòa hóa” nắng nóng bằng cách đơn giản là lắp thêm nhiều máy lạnh, mà cần
chuyển từ tư duy tăng công suất làm lạnh sang tăng hiệu quả của dịch vụ làm
mát.
(*) TS. Trịnh Quốc Dũng, Khoa Năng lượng Nhiệt, Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 37-2026 phát hành ngày 14/9/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Nhân Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ozone (16/9/2026), bà Inger Andersen, Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã có bài phát biểu truyền tải thông điệp quan trọng, chia sẻ những thành quả về bảo vệ tầng ozone, bảo vệ hàng triệu sinh mạng và các hệ sinh thái thiết yếu khỏi bức xạ tia cực tím có hại thông qua việc các quốc gia đang từng bước cắt giảm HFC- những chất có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao và được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống làm mát; đồng thời kêu gọi các chính phủ đẩy nhanh tiến độ triển khai; cộng đồng doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp làm mát tiết kiệm năng lượng và thân thiện với khí hậu…
Khi điện gió phát triển nhanh tại châu Âu, số lượng tuabin và cánh quạt hết vòng đời cũng sẽ gia tăng. Một doanh nghiệp Thụy Điển đang thử nghiệm nhiều cách tái sử dụng các bộ phận của tuabin gió, từ biến vỏ nacelle thành nhà siêu nhỏ, cánh quạt thành mặt tiền bãi đỗ xe đến chế tạo ván trượt tuyết, qua đó mở thêm hướng đi cho kinh tế tuần hoàn trong ngành năng lượng tái tạo…
Từ loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, Việt Nam đang bước sang giai đoạn giảm dần các chất có tác động lớn đến khí hậu, tăng cường quản lý các chất được kiểm soát trong toàn bộ vòng đời và thúc đẩy các giải pháp công nghệ bền vững hơn. Cùng với đó, hệ thống chính sách từng bước được hoàn thiện, vừa bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế, vừa định hướng thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh theo hướng xanh, bền vững...
Năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở ra một giai đoạn mới trong nỗ lực toàn cầu bảo vệ tầng ozone và ứng phó với biến đổi khí hậu. Với việc đưa các chất HFC- những khí nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí theo hướng có tác động thấp hơn tới khí hậu...
Việc quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời thúc đẩy làm mát bền vững, cần được đặt trong một bài toán tổng thể với cách tiếp cận mới và các giải pháp đồng bộ. Làm mát bền vững là bài toán liên ngành, liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động đang ngày càng tác động đến cách du khách lựa chọn điểm đến. Đây được xem là dư địa để Việt Nam phát triển du lịch wellness, kết hợp nghỉ dưỡng, trị liệu, dinh dưỡng và trải nghiệm thiên nhiên.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...