Mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội là căn cứ để tính lương hưu từ 1/7/2025

Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội này là căn cứ để tính lương hưu, trợ cấp một lần, hưởng bảo hiểm xã hội một lần, trợ cấp tuất một lần cho người lao động...

Lương hưu giúp đảm bảo an sinh xã hội cho người về hưu. Ảnh: Duy Nguyễn.
Lương hưu giúp đảm bảo an sinh xã hội cho người về hưu. Ảnh: Duy Nguyễn.

Cách tính cụ thể được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất tại dự thảo Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đang được xây dựng. Quy định dự kiến áp dụng từ ngày 1/7/2025, cùng thời điểm hiệu lực của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.

Theo đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này như sau:

Đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 1/1/1995: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm (60 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 60 tháng.

Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/1995, đến ngày 31/12/2000: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 6 năm (72 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 72 tháng.

Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 1/1/2001 đến ngày 31/12/2006: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 8 năm (96 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 96 tháng.

Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2007 đến ngày 31/12/2015:  Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 10 năm (120 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 120 tháng.

Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2019: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 15 năm (180 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 180 tháng.

Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ từ ngày 1/1/2020 đến ngày 31/12/2024: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm (240 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 240 tháng.

Riêng đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 1/1/2025 trở đi: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Người hưởng chờ nhận lương hưu tại Hà Nội. Ảnh: Thu Hiền.
Người hưởng chờ nhận lương hưu tại Hà Nội. Ảnh: Thu Hiền.

Đối với người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của các tháng đóng bảo hiểm xã hội, chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Trường hợp người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được tính như sau:

Mức bình quân tiền lương = (Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của các tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định), chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Trong đó, tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, được tính bằng tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, nhân với mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Trường hợp người lao động có từ 2 giai đoạn trở lên, thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, thì tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính theo quy định trên.

Số năm cuối là số năm gần nhất đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, là tổng số các tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của các giai đoạn.

Ví dụ, ông T nghỉ việc hưởng lương hưu khi đủ 61 tuổi 6 tháng, có 32 năm đóng bảo hiểm xã hội. Diễn biến thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông T như sau:

Từ tháng 1/1996 đến tháng 12/2015 (20 năm) đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.

Từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2021 (5 năm 4 tháng) đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.

Từ tháng 5/2021 đến tháng 4/2026 (5 năm) đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Ông T hưởng lương hưu từ tháng 5/2026.

Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của ông T được tính như sau:

Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định là: 20 năm 5 năm = 25 năm (300 tháng).

Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của ông T được tính như sau: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 6 năm cuối đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định (12 tháng tính từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2015 và 60 tháng tháng tính từ tháng 5/2021 đến tháng 4/2026), chia cho 72 tháng.

Như vậy, tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của ông T được tính là: 300 tháng x Mức bình quân tiền lương.

Hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực quản lý đê điều

Hệ thống pháp luật về đê điều đang tiếp tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các quy định mới tập trung phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường bảo vệ hành lang đê và nâng cao hiệu quả phòng, chống lũ, bảo đảm an toàn hệ thống đê điều...

Lễ kí kết thỏa thuận giữa Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và Hiệp hội Sách giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam

Ngày 29/7/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và Hiệp hội Sách giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam đã kí kết Thỏa thuận hợp tác về phối hợp rà soát, đánh giá chuyên môn và hoàn thiện sách điện tử, sách số, học liệu số, qua đó góp phần xây dựng hệ sinh thái học liệu số chất lượng, hiện đại và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục.

Ứng dụng công nghệ mới trong việc giám định ADN hài cốt liệt sĩ

Cùng với việc ứng dụng công nghệ giải trình tự gene thế hệ mới, ngành y tế kiến nghị sớm bố trí kinh phí, đầu tư trang thiết bị và nhân lực để hoàn thành mục tiêu Chiến dịch 500 ngày đêm, đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ...

Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.

VnEconomy Quyết sách đúng phải được chuyển hóa thành tăng trưởng chất lượng cao

Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy