
Cách tính cụ thể được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất tại dự thảo Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đang được xây dựng. Quy định dự kiến áp dụng từ ngày 1/7/2025, cùng thời điểm hiệu lực của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Theo đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này như sau:
Đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 1/1/1995: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm (60 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 60 tháng.
Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/1995, đến ngày 31/12/2000: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 6 năm (72 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 72 tháng.
Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 1/1/2001 đến ngày 31/12/2006: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 8 năm (96 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 96 tháng.
Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2007 đến ngày 31/12/2015: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 10 năm (120 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 120 tháng.
Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2019: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 15 năm (180 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 180 tháng.
Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ từ ngày 1/1/2020 đến ngày 31/12/2024: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm (240 tháng) cuối trước khi nghỉ hưu chia cho 240 tháng.
Riêng đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 1/1/2025 trở đi: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Đối với người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của các tháng đóng bảo hiểm xã hội, chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Trường hợp người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được tính như sau:
Mức bình quân tiền lương = (Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của các tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định), chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Trong đó, tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, được tính bằng tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, nhân với mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
Trường hợp người lao động có từ 2 giai đoạn trở lên, thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, thì tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính theo quy định trên.
Số năm cuối là số năm gần nhất đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, là tổng số các tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của các giai đoạn.
Ví dụ, ông T nghỉ việc hưởng lương hưu khi đủ 61 tuổi 6 tháng, có 32 năm đóng bảo hiểm xã hội. Diễn biến thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông T như sau:
Từ tháng 1/1996 đến tháng 12/2015 (20 năm) đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.
Từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2021 (5 năm 4 tháng) đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
Từ tháng 5/2021 đến tháng 4/2026 (5 năm) đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Ông T hưởng lương hưu từ tháng 5/2026.
Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của ông T được tính như sau:
Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định là: 20 năm 5 năm = 25 năm (300 tháng).
Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của ông T được tính như sau: Mức bình quân tiền lương = Tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 6 năm cuối đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định (12 tháng tính từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2015 và 60 tháng tháng tính từ tháng 5/2021 đến tháng 4/2026), chia cho 72 tháng.
Như vậy, tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của ông T được tính là: 300 tháng x Mức bình quân tiền lương.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chỉ đạo rà soát, tháo gỡ khó khăn trong cung ứng sách giáo khoa, đảm bảo đủ sách cho học sinh trong năm học mới; không để ảnh hưởng đến việc dạy và học...
Bộ Y tế đề xuất tổ chức khóa học trước kết hôn cho thanh niên, khuyến khích nam, nữ kết hôn trước 30 tuổi và sinh đủ hai con tại các tỉnh, thành phố có mức sinh thấp...
Bộ Y tế đề nghị các địa phương chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực, nghiên cứu phương án triển khai, và hướng dẫn các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn sẵn sàng thực hiện hướng dẫn thực hành theo chương trình mới...
Do Luật Bảo hiểm xã hội 2024 không trao quyền khởi kiện cho cơ quan Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội cơ sở Ứng Hòa đã đề nghị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 đứng ra làm nguyên đơn khởi kiện Công ty MD ra tòa. Việc áp dụng thí điểm khởi kiện dân sự công ích theo Nghị quyết 205/2025/QH15 không chỉ giải quyết bài toán pháp lý trước mắt mà còn tạo thêm cơ chế "siết" tình trạng chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội kéo dài...
Những năm qua, hoạt động di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài và người nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng về quy mô và đa dạng về hình thức. Giai đoạn 2020-2025 có trên 700.000 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Bên cạnh di cư hợp pháp, tình trạng di cư trái phép, cư trú, lao động bất hợp pháp, mua bán người tiếp tục diễn biến phức tạp...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.