Ngày 12/6, UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức buổi làm việc nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án năng lượng trên địa bàn.
Theo báo cáo của Sở Công Thương Quảng Trị, hiện toàn tỉnh này có 17 dự án năng lượng chậm tiến độ, gồm các dự án điện gió, thủy điện và nhiệt điện với tổng công suất gần 1.900 MW. Đây là những dự án có vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và tăng nguồn thu ngân sách địa phương.
Tuy nhiên, quá trình triển khai các dự án đang gặp nhiều khó khăn. Trong đó, công tác giải phóng mặt bằng tại một số dự án còn chậm; việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng và hoàn thiện các thủ tục pháp lý liên quan kéo dài. Bên cạnh đó, một số dự án gặp vướng mắc về đấu nối, chia sẻ hạ tầng truyền tải điện, điều chỉnh chủ trương đầu tư, tiếp cận nguồn vốn tín dụng và chịu tác động từ giá vật liệu xây dựng tăng cao.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo các sở, ngành và địa phương đã tập trung phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ của từng dự án; đồng thời làm rõ trách nhiệm của các đơn vị liên quan trong quá trình giải quyết các thủ tục về đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng và các nội dung thuộc thẩm quyền.
Nhiều giải pháp đã được đề xuất nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo điều kiện thuận lợi để các dự án sớm hoàn thành và đưa vào vận hành.
Tại buổi làm việc, ông Lê Hồng Vinh, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, đã làm rõ thêm một số nguyên nhân khiến các dự án năng lượng chậm tiến độ. Đồng thời, giao Sở Công Thương chủ trì rà soát, xây dựng và theo dõi tiến độ các dự án; phối hợp với các sở, ngành, địa phương giải quyết các khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cũng yêu cầu các chủ đầu tư ký cam kết tiến độ thực hiện dự án và định kỳ hằng tháng báo cáo UBND tỉnh về tình hình triển khai.
Đối với các sở, ngành và địa phương, ông Lê Hồng Vinh yêu cầu tiếp tục rà soát, phân loại cụ thể từng khó khăn, vướng mắc của từng dự án để có giải pháp xử lý phù hợp; tăng cường phối hợp giải quyết các thủ tục về đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng và các nội dung liên quan. Những vấn đề vượt thẩm quyền cần được tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo kịp thời.
Các chủ đầu tư được yêu cầu tập trung nguồn lực, xây dựng lộ trình thực hiện cụ thể cho từng dự án; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng để tháo gỡ khó khăn phát sinh, bảo đảm thực hiện đúng các cam kết tiến độ và sớm hoàn thành các hạng mục theo kế hoạch.
Cùng với đó, chính quyền địa phương tiếp tục phối hợp với chủ đầu tư đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân nhằm đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, góp phần thúc đẩy tiến độ các dự án năng lượng trên địa bàn tỉnh.
Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn được định hướng trở thành trung tâm dịch vụ cửa khẩu và hậu cần logistics quốc gia, quốc tế, với quy mô quy hoạch 39.400 ha...
Dự án TC APPAREL (VIETNAM) có tổng vốn đầu tư hơn 2.373 tỷ đồng, tập trung sản xuất sợi, hàng may mặc, thùng carton và túi plastic, dự kiến hoàn thành toàn bộ và đưa vào vận hành trước tháng 5/2030.
Với gần 7.300 doanh nghiệp đang hoạt động, thành phố Huế đang đẩy mạnh cải cách hành chính, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Qua đó, địa phương hướng tới xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, trong khi tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của thành phố Huế mới đạt 51,3% kế hoạch được giao. Thành phố đang tập trung rà soát từng dự án, xác định rõ trách nhiệm xử lý vướng mắc, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho những công trình có khả năng hoàn thành và giải ngân.
Thành phố Đà Nẵng đang nỗ lực hạ quyết tâm đạt mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công vào cuối năm 2026, với tổng số vốn được Thủ tướng Chính phủ giao là hơn 17.191 tỷ đồng và Hội đồng nhân dân TP.Đà Nẵng giao là hơn 18.465 tỷ đồng. Đây là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và cải thiện hạ tầng của thành phố.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.