Tại Hội thảo tham vấn góp ý dự thảo tài liệu hướng dẫn tuân thủ Quy định Chống phá rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR) cho ngành cao su Việt Nam diễn ra vào chiều 29/6/2026, ông Diệp Xuân Trường, Phó Trưởng ban Công nghệ, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG), cho biết VRG hiện là doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực cao su, với khoảng 96% vốn điều lệ do Bộ Tài chính nắm giữ.
Tập đoàn hoạt động trên 6 lĩnh vực gồm: trồng, chăm sóc và chế biến cao su thiên nhiên; chế biến gỗ; công nghiệp cao su; đầu tư hạ tầng khu công nghiệp; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; và năng lượng tái tạo.
Hiện VRG quản lý khoảng 377.000 ha cao su, sở hữu 16 nhà máy chế biến gỗ, 19 khu công nghiệp, vận hành 4 nhà máy thủy điện, đồng thời phát triển các dự án điện mặt trời nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Tập đoàn có vốn điều lệ khoảng 40.000 tỷ đồng với gần 80.000 lao động.
Ông Trường cho hay trong giai đoạn 2019-2024, VRG tập trung thực hiện quản lý rừng bền vững, triển khai các chứng chỉ VFCS/PEFC, FSC và tham gia hệ thống bảo đảm gỗ cao su hợp pháp. Bước sang giai đoạn 2023-2030, Tập đoàn thực thi Chiến lược tăng trưởng xanh, đặt mục tiêu xây dựng nền tảng giảm phát thải khí nhà kính, phấn đấu giảm tối thiểu 2% lượng phát thải mỗi năm kể từ năm 2023, hướng tới Net Zero vào năm 2050.
Bên cạnh đó, VRG đẩy mạnh các giải pháp tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước và giảm phát sinh chất thải trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh.
VRG cũng đẩy mạnh xanh hóa quy trình sản xuất bằng việc chuyển đổi nhiên liệu sấy sang biomass nhằm giảm phát thải, mở rộng sử dụng điện mặt trời áp mái, tiết kiệm khoảng 5,5% lượng nước sử dụng hằng năm và tái sử dụng khoảng 20% lượng nước thải.
Năm 2026, cơ bản toàn bộ diện tích cao su của Tập đoàn đã có phương án quản lý rừng bền vững theo quy định của Nhà nước. Khoảng 148.000 ha đã được cấp chứng chỉ VFCS/PEFC và triển khai chuỗi hành trình sản phẩm (PEFC CoC). Hiện có 56 nhà máy chế biến mủ cao su thiên nhiên và sản phẩm công nghiệp cao su đáp ứng tiêu chuẩn PEFC CoC.
Trong lĩnh vực môi trường, Tập đoàn đã ban hành chỉ thị về bảo vệ môi trường áp dụng tại toàn bộ các công ty ở Việt Nam, Lào và Campuchia. Đến nay có 42 đơn vị được chứng nhận ISO 14001.
Theo ông Trường, nhiều năm qua các công ty thành viên của VRG tích cực tham gia Chương trình đánh giá Doanh nghiệp bền vững (CSI 100). Mỗi năm có từ 10-18 đơn vị nằm trong Top 100 doanh nghiệp bền vững và giai đoạn 2020-2025 đều có doanh nghiệp thuộc Top 10 doanh nghiệp bền vững của ngành cao su.
Hiện VRG đang chuyển sang giai đoạn tập trung giảm phát thải carbon trên từng sản phẩm. Từ năm 2025, Tập đoàn triển khai ISO 14064 về kiểm kê khí nhà kính và trong năm 2026 tổ chức đào tạo ISO 14067 về định lượng dấu chân carbon của sản phẩm. Mục tiêu là từng bước giảm phát thải, tiến tới gắn nhãn carbon cho sản phẩm khi đưa ra thị trường.
Ông Trường cho hay năm 2025, VRG đã ban hành nhãn sản phẩm mới mang tên VRG Green. Để được sử dụng nhãn này, các công ty thành viên phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí như tuân thủ EUDR, áp dụng ISO 14067, thực hiện quản lý rừng bền vững theo VFCS/PEFC, phòng thử nghiệm đạt ISO/IEC 17025 cùng các tiêu chuẩn ISO 9001, ISO 14001 và các tiêu chuẩn nội bộ của Tập đoàn.
Năm 2025, hai đơn vị đầu tiên được lựa chọn thí điểm là Công ty Cao su Chư Sê Kampong Thom và Tổng công ty Cao su Phú Riềng. Đến nay, Công ty Cao su Bình Long cũng đã đáp ứng các tiêu chí. Dự kiến trong năm 2026 sẽ có khoảng 230.000 tấn mủ cao su được gắn nhãn VRG Green.
Về quá trình triển khai EUDR, đến tháng 6/2026, về cơ bản diện tích cao su do VRG quản lý đã đáp ứng các yêu cầu của EUDR. Hiện có 39 đơn vị hoàn thiện hồ sơ chứng minh đáp ứng EUDR với diện tích khoảng 305.000 ha, tương đương 81% tổng diện tích của Tập đoàn.
Trong thời gian tới, VRG sẽ tiếp tục triển khai ISO 14067 phục vụ phát triển nhãn VRG Green, thực hiện kiểm kê khí nhà kính, thí điểm trung hòa carbon tại một công ty thành viên trong 1-2 năm tới, đồng thời nghiên cứu các dự án tín chỉ carbon cho cây cao su và các dự án năng lượng tái tạo nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững".
Năm 2025, VRG đã tiêu thụ gần 7.000 tấn mủ cao su đáp ứng EUDR; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 10.000 tấn. Giá bán sản phẩm đáp ứng EUDR cao hơn khoảng 150-250 USD/tấn so với sản phẩm thông thường, mang lại giá trị gia tăng ước khoảng 30 tỷ đồng. Đến nay, 23 đơn vị thành viên với khoảng 210.000 ha cao su cũng đã được khách hàng châu Âu xác nhận đáp ứng các yêu cầu của EUDR.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay nằm ở khu vực cao su tiểu điền. Ví dụ Công ty Cao su Dầu Tiếng đang thu mua mủ của khoảng 2.000 hộ dân nhưng mới có hơn 250 hộ được đưa vào hệ thống đáp ứng EUDR, tương đương khoảng 10%.
"Nhiều hộ dân còn thiếu giấy tờ nhân thân, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thông tin vị trí thửa đất và tọa độ GPS. Việc đo đạc, lập bản đồ khiến doanh nghiệp phát sinh nhiều chi phí và cần nguồn nhân lực lớn. Bên cạnh đó, không ít hộ vẫn cho rằng việc thực hiện EUDR chưa thực sự cần thiết nên mức độ hợp tác còn hạn chế", ông Trường nêu thực tế.
Về định hướng thời gian tới, ông Trường cho biết VRG sẽ ban hành Chiến lược tăng trưởng xanh, Net Zero và phát triển bền vững giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó đưa mục tiêu Net Zero trở thành một trong những trọng tâm của chiến lược.
Tập đoàn sẽ tiếp tục hoàn thiện quản lý rừng bền vững, chuỗi hành trình sản phẩm, hoàn thành việc đáp ứng EUDR tại toàn bộ các đơn vị thành viên, đồng thời ban hành bộ chỉ số ESG gồm khoảng 100 chỉ số. Bộ chỉ số này hiện đang được thử nghiệm tại Công ty mẹ và dự kiến từ tháng 8/2026 sẽ được triển khai trên toàn hệ thống để theo dõi, giám sát theo thời gian thực.
Từ vùng đất trước đây chỉ sản xuất lúa 1 vụ/năm với hiệu quả kinh tế bấp bênh, khu đồng Sùng, phố Tân Hồ, phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa đang hình thành mô hình kinh tế “3 trong 1” từ cây sen: kết hợp trồng sen làm nguyên liệu, chế biến sản phẩm và phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm. Mô hình hiện mang lại doanh thu hàng trăm triệu đồng/năm.
Qua kiểm kê khí nhà kính, các doanh nghiệp sẽ nắm bắt được thực trạng phát thải, từ đó có kế hoạch, giải pháp giảm phù hợp. Điều này không chỉ giúp nâng cao uy tín, tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của chuỗi cung ứng mà còn mở cơ hội tiếp cận tài chính xanh…
Sau hơn hai thập kỷ đầu tư vào tôm giống và công nghệ di truyền, năng lực công nghệ đang được mở rộng để phát triển các giải pháp thủy sản hướng tới thị trường quốc tế, trong bối cảnh ngành tôm Việt Nam chuyển dần từ lợi thế tự nhiên sang cạnh tranh bằng khoa học, công nghệ và giá trị gia tăng…
Hàn Quốc từng là thành trì vững chắc của các thương hiệu ô tô nội địa và phương Tây. Tuy nhiên, thị trường này đang chứng kiến một cuộc lật đổ ngoạn mục khi xe điện sản xuất tại Trung Quốc ồ ạt tiến vào, chinh phục người tiêu dùng nhờ giá cả cạnh tranh và công nghệ hiện đại…
Những cánh rừng ngập mặn ven biển không còn chỉ được nhìn như “lá chắn xanh” trước biến đổi khí hậu. Trong cách tổ chức phát triển mới của Cà Mau, hệ sinh thái này đang trở thành mắt xích đầu tiên của chuỗi giá trị kéo dài từ nuôi trồng, chế biến, logistics đến xuất khẩu và kinh tế biển...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Từ vùng đất trước đây chỉ sản xuất lúa 1 vụ/năm với hiệu quả kinh tế bấp bênh, khu đồng Sùng, phố Tân Hồ, phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa đang hình thành mô hình kinh tế “3 trong 1” từ cây sen: kết hợp trồng sen làm nguyên liệu, chế biến sản phẩm và phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm. Mô hình hiện mang lại doanh thu hàng trăm triệu đồng/năm.