Theo hãng tin CNN, thay vì những tuyên bố ồn ào, các quyết định vội vã theo tình thế hay những bài đăng viết in hoa lúc nửa đêm trên mạng xã hội Truth Social, ông Trump và nội các của mình đang âm thầm xây dựng lại bộ máy thuế quan theo cách bài bản, chậm rãi và có tính toán hơn.
CHÍNH QUYỀN ÔNG TRUMP ĐANG LÀM GÌ?
Khác với trước đây, các công cụ pháp lý mà chính quyền ông Trump sử dụng lần này có căn cứ cụ thể hơn, tập trung vào từng vấn đề thương mại riêng biệt. Nếu thành công, cách tiếp cận này có thể giúp các mức thuế quan mới khó bị đảo ngược hơn.
Tuy nhiên, cách làm kín tiếng hơn không có nghĩa là tác động sẽ nhẹ nhàng hơn. Nếu thành công, các mức thuế quan mới của ông Trump có thể gây ảnh hưởng mạnh không kém những biện pháp trước kia và thậm chí còn có thể tồn tại lâu hơn.
Vào đêm thứ Ba (2/6), Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer công bố báo cáo dài 98 trang về cuộc điều tra kéo dài nhiều tháng nhằm vào các đối tác thương mại của Mỹ được cho chưa kiểm soát việc nhập khẩu hàng hóa sản xuất trong điều kiện lao động cưỡng bức.
Theo báo cáo, 60 nền kinh tế có quan hệ thương mại với Mỹ chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả các lệnh cấm nhập khẩu đối với hàng hóa được sản xuất trong điều kiện lao động không tự nguyện hoặc không được trả công xứng đáng. Ông Greer cho rằng một số đối tác đã có “những bước đi ban đầu” nhằm hạn chế vấn đề này, nhưng tiến độ xử lý vẫn chưa đủ nhanh.
“Việc các đối tác thương mại quan trọng nhất của Mỹ không xử lý vấn đề nhập khẩu hàng hóa được sản xuất trong điều kiện lao động cưỡng bức là điều không thể chấp nhận. Điều này khiến người lao động Mỹ phải cạnh tranh trên một sân chơi không bình đẳng toàn cầu”, ông Greer nói trong một tuyên bố.
Để xử lý vấn đề này, ông Greer đề xuất áp mức thuế quan bổ sung tối thiểu 10% đối với toàn bộ các đối tác thương mại nằm trong diện điều tra, dựa trên cơ sở pháp lý là Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974.
Một số đối tác và khối kinh tế từng đàm phán thương mại với Mỹ, gồm Canada, Mexico, Liên minh châu Âu (EU), Ecuador, Indonesia và Pakistan, cũng thuộc diện chịu thuế quan bổ sung này.
Trong khi đó, một số nước khác có thể phải chịu mức thuế quan bổ sung cao hơn, ở mức 12,5%, gồm Trung Quốc, Brazil, Nhật Bản và Ấn Độ. Đây là những đối tác mà Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) cho rằng chưa có bước đi ban đầu nhằm ngăn hàng hóa liên quan đến lao động cưỡng bức nhập khẩu vào thị trường của họ.
Các mức thuế quan trên chưa có hiệu lực ngay. Đề xuất này hiện được đưa ra lấy ý kiến công chúng đến ngày 6/7, trước khi USTR tổ chức các phiên điều trần vào ngày 7/7.
VÌ SAO ÔNG TRUMP CHỌN CÁCH LÀM NHƯ VẬY?
Ông Trump từ lâu đã phát tín hiệu rằng ông sẽ tìm các cơ sở pháp lý khác để áp thuế quan, ngay cả trước khi Tòa án Tối cao Mỹ hồi tháng 2 phán quyết rằng tổng thống không có thẩm quyền sử dụng quyền khẩn cấp để áp thuế quan đối ứng với hàng nhập khẩu.
Ngay sau phán quyết này, ông Trump công bố mức thuế quan toàn cầu 10% trong 150 ngày, dựa trên Điều 122 của Đạo luật Thương mại năm 1974. Tuy nhiên, biện pháp này vốn chỉ có tính tạm thời do bị giới hạn về thời gian áp dụng. Đến đầu tháng 5, một hội đồng thẩm phán tại Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ tiếp tục kết luận chính quyền không có đủ căn cứ để áp dụng mức thuế quan đó.
Trong bối cảnh này, chính quyền ông Trump phát tín hiệu rằng Điều 301 có thể là hướng đi lâu dài hơn. Khác với Điều 122, các mức thuế quan được áp đặt dựa trên cuộc điều tra theo Điều 301 không bị giới hạn về thuế suất hoặc thời gian áp dụng.
Điều 301 cho phép USTR điều tra các quốc gia bị cho là vi phạm thỏa thuận thương mại hoặc có các hành vi gây thiệt hại cho doanh nghiệp Mỹ. Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, ông Trump từng sử dụng điều khoản này để tăng thuế quan đối với một số hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, cũng như máy bay và một số mặt hàng khác từ Liên minh châu Âu (EU).
Chưa dừng lại ở đó, USTR hiện đang triển khai cuộc điều tra đối với hơn 12 quốc gia liên quan đến vấn đề dư thừa công suất sản xuất.
Trong một diễn biến khác vào ngày thứ Ba, chính quyền ông Trump kháng cáo phán quyết của một thẩm phán liên bang yêu cầu hoàn trả toàn bộ 166 tỷ USD tiền thuế quan đối ứng đã thu dựa trên quyền khẩn cấp.
Chính phủ Mỹ đã bắt đầu hoàn trả số tiền thuế quan này từ tháng 4, nhưng cho biết sẽ chưa hoàn ngay hàng chục tỷ USD còn lại. Trong số này có các khoản thuế phức tạp đã được chốt, nhưng nhà nhập khẩu liên quan chưa khởi kiện chính phủ. Hiện chưa rõ khi nào hệ thống hoàn trả sẽ được mở để xử lý toàn bộ các khoản thuộc diện được hoàn tiền.
Chính phủ Mỹ cũng kháng cáo phán quyết yêu cầu ông Rodney Scott, Ủy viên Cơ quan Hải quan và Biên phòng Mỹ (CBP), trực tiếp ra làm chứng tại một phiên điều trần sắp tới về quy trình hoàn trả tiền thuế. Trong đơn kháng cáo, Chính phủ Mỹ đề xuất để các quan chức khác ra làm chứng thay ông Scott, với lập luận rằng những người này nắm rõ hơn về quy trình hoàn thuế.




Saudi Arabia, Morocco và Ai Cập ghi nhận lượng du khách quốc tế tăng mạnh so với năm 2019, trong khi Israel, Ireland và một số điểm đến tại châu Á vẫn chưa trở lại mức trước đại dịch Covid-19...
Liên minh châu Âu (EU) có nguy cơ không thể thông qua gói trừng phạt kinh tế mới nhằm vào Nga, khi nhiều nước thành viên không ủng hộ những biện pháp có thể gây tổn hại cho các doanh nghiệp lớn của họ…
Trong lúc ngành hàng không toàn cầu đối mặt nhiều thách thức vì cuộc khủng hoảng năng lượng do chiến tranh giữa Mỹ và Iran gây ra, một số hãng bay vẫn lãi lớn...
Trong khi phần lớn châu Âu đã cho phép cửa hàng hoạt động cả 7 ngày trong tuần, Đức vẫn duy trì quy định hạn chế mua sắm vào Chủ nhật có từ hơn một thế kỷ trước. Tuy nhiên, sức ép vực dậy nền kinh tế trì trệ đang khiến Berlin cân nhắc nới lỏng quy định lâu đời này…
BlackRock đã trở thành công ty quản lý tài sản đầu tiên trên thế giới vượt mốc 15 nghìn tỷ USD tài sản, một con số gần gấp ba lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa hàng năm của Đức, nền kinh tế lớn nhất Liên minh châu Âu (EU)...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 29-2026 phát hành ngày 20/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Hà Nội vừa khởi công xây dựng đồng thời 5 tuyến metro, định hình cấu trúc đô thị đa cực, chuyển dần từ mô hình phát triển tập trung vào khu vực trung tâm sang mô hình phát triển đa trung tâm. Phát triển các tuyến metro đồng thời thúc đẩy TOD tích hợp với nhà ở, thương mại, văn phòng, dịch vụ sẽ tối ưu hóa giá trị sử dụng đất.