Gia Lai: Phát triển nguồn năng lượng xanh mới, nâng tầm giá trị với viên nén đen
AAn Chi
Chọn cỡ chữ
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Nhà máy sản xuất viên nén đen của IGEV tại Gia Lai. Ảnh: An Chi
Sau khi chính thức đi vào vận hành thương mại từ tháng 10/2025, Nhà máy viên nén đen của Công ty TNHH Năng lượng Xanh Idemitsu Việt Nam (IGEV) thuộc Tập đoàn Idemitsu Kosan của Nhật Bản, đã xuất khẩu thành công lô sản phẩm đầu tiên sang Nhật Bản vào tháng 2/2026, đánh dấu một bước tiến mới của ngành nhiên liệu sinh khối Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo ông Hiroto Ono, Tổng Giám đốc IGEV, sản phẩm chủ lực của doanh nghiệp là viên nén đen được sản xuất từ gỗ keo rừng trồng tại Gia Lai và khu vực lân cận. Với công suất thiết kế 120.000 tấn mỗi năm cùng quy trình sản xuất không phát thải nhờ thu hồi, tái sử dụng khí sinh ra trong quá trình chế biến, viên nén đen đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi năng lượng xanh và kinh tế tuần hoàn.
CÔNG NGHỆ BIẾN GỖ RỪNG TRỒNG THÀNH NHIÊN LIỆU CHO PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG XANH
Tận dụng nguồn nguyên liệu sinh khối từ các vùng rừng trồng ở Gia Lai, nhà máy viên nén đen của IGEV được đặt tại Cụm công nghiệp Hoài Tân, tỉnh Gia Lai, đã phát triển thành công sản phẩm viên nén đen bằng công nghệ gia nhiệt tiên tiến.
Quy trình sản xuất gồm bốn công đoạn chính: thu mua và kiểm định nguyên liệu; băm nghiền gỗ; sản xuất viên nén trắng; và công đoạn cốt lõi là gia nhiệt hay còn gọi là carbon hóa bán phần để tạo thành viên nén đen.
Thông qua quá trình xử lý nhiệt trong điều kiện kiểm soát đặc biệt, viên nén đen có nhiệt trị cao hơn, khả năng chống ẩm và chống nước tốt hơn, dễ nghiền hơn và có thể sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện mà không cần cải tạo lớn hệ thống hiện hữu.
Đáng chú ý, theo chia sẻ của các kỹ sư IGEV, trong công đoạn nhiệt phân sinh khối để sản xuất viên nén đen, một lượng khí nhất định được hình thành. Thay vì phát tán ra môi trường, nguồn khí này được thu gom, xử lý và tái sử dụng ngay trong hệ thống gia nhiệt của nhà máy. Công nghệ tuần hoàn khí giúp thu hồi 100% lượng khí phát sinh từ quá trình nhiệt phân. Sau khi được xử lý, nguồn khí được sử dụng làm nhiên liệu cho các đầu đốt, tạo nhiệt phục vụ dây chuyền chế biến.
Giải pháp này không chỉ giảm đáng kể nhu cầu nhiên liệu bổ sung mà còn góp phần hạn chế phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và gia tăng tính bền vững của toàn bộ quy trình sản xuất.
Viên nén đen cũng được đánh giá có giá trị thương mại cao gấp nhiều lần viên nén trắng. Trong tương lai, chúng tôi đang hướng tới mục tiêu nâng cao tỷ lệ sử dụng và từng bước tiến tới đốt hoàn toàn bằng nhiên liệu sinh khối.
Trong buổi làm việc tại Nhà máy mới đây, ôngNguyễn Hữu Quế,Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cho rằng dự án khôngchỉ tạo thêm giá trị cho ngành lâm nghiệp mà còn góp phần hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng“0”của Việt Nam vào năm 2050.
“Sự thành công của nhà máy viên nén đen là minh chứng cho sức hấp dẫn của môi trường đầu tư địa phương, đồng thời mở ra cơ hội thu hút thêm các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào lĩnh vực chế biến sâu và công nghệ xanh,” ông Quế nhấn mạnh.
ĐỘNG LỰC MỚI CHO NGÀNH LÂM SẢN GIA LAI
Theo ông Võ Mai Hưng, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Gia Lai,hiện nay, cơ cấu ngành chế biến gỗ của tỉnh khá rõ nét. Cụ thể, khoảng 40% hoạt động trong lĩnh vực sản xuất đồ gỗ nội thất và các sản phẩm từ gỗ; 30% thuộc lĩnh vực chế biến dăm gỗ và viên nén gỗ; 30% còn lại là các sản phẩm liên quan đến gỗ và vật liệu thay thế.
"Trong bối cảnh nhu cầu thị trường ngày càng thay đổi, ngành chế biến gỗ đang từng bước chuyển dịch từ các sản phẩm sơ chế sang những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn", ông Hưng nói.
Một trong những xu hướng nổi bật là quá trình chuyển đổi từ sản xuất dăm gỗ sang viên nén gỗ và hiện nay là viên nén đen. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 36 dự án sản xuất viên nén trắng với tổng công suất thiết kế khoảng 3,6 triệu tấn mỗi năm, sản lượng thực tế đạt từ 2,5- 2,7 triệu tấn. Trong khi đó, viên nén đen là một sản phẩm còn khá mới nhưng được đánh giá có tiềm năng tăng trưởng rất lớn. Ông Hưng cho rằng “đây là bước phát triển tất yếu nhằm gia tăng giá trị trong chuỗi chế biến lâm sản”.
Theo đánh giá của ngành chức năng, giá trị gia tăng của viên nén đen cao hơn khoảng 3,5- 5 lần so với viên nén trắng. Điều này đồng nghĩa nếu từng bước chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ viên nén trắng sang viên nén đen, hiệu quả kinh tế mang lại cho doanh nghiệp và địa phương sẽ tăng đáng kể.
Đốivớidự án của Idemitsu,vấn đề nguồn nguyên liệu đang được địa phương đặc biệt quan tâm.Ngay sau khi dự án đi vào vận hành thương mại, doanh nghiệp đã chủ động làm việc với chính quyền tỉnh để xây dựng vùng nguyên liệu ổn định trong dài hạn. Hiện các cơ quan chuyên môn đã được giao phối hợp với doanh nghiệp rà soát những khu vực phù hợp nhằm phát triển vùng cung ứng nguyên liệu cho nhà máy.
Ông Hưng đánh giá dự án không chỉ tạo ra giá trị cao hơn, mà còn mở ra cơ hội hình thành chuỗi liên kết mới trong ngành. Các doanh nghiệp có thể tham gia với vai trò đối tác cung ứng nguyên liệu, hợp tác đầu tư hoặc trở thành mắt xích trong chuỗi giá trị sản xuất và xuất khẩu viên nén đen.
Bên cạnh đó, tỉnh Gia Lai cũng khuyến khích doanh nghiệp tăng cường liên kết với người dân và các đơn vị trồng rừng để hình thành chuỗi cung ứng bền vững. Địa phương cũng mong muốn các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển các giống cây trồng mới có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng tạo nhiệt lượng lớn hơn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất viên nén đen trong tương lai.
Theo định hướng phát triển trong thời gian tới, Gia Lai sẽ chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên mở rộng quy mô sang mô hình tăng trưởng dựa trên nâng cao giá trị gia tăng. Nếu trước đây động lực phát triển chủ yếu đến từ việc gia tăng vốn đầu tư và mở rộng công suất sản xuất, thì giai đoạn mới sẽ tập trung vào nâng cao giá trị của từng ngành hàng và từng sản phẩm.
Sự chuyển dịch này được triển khai theo hai hướng chính. Thứ nhất, chuyển dịch ngay trong nội bộ ngành chế biến gỗ, từ dăm gỗ sang viên nén, từ viên nén trắng sang viên nén đen, đồng thời thúc đẩy phát triển các sản phẩm gỗ kỹ thuật, gỗ công nghiệp và các dòng sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.
Thứ hai,đa dạng hóa sản phẩm bằng cách kết hợp gỗ với các vật liệu khác như nhôm, nhựa, inox, vải và nhiều vật liệu mới để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.
Với lợi thế về vùng nguyên liệu, năng lực chế biến sẵn có cùng định hướng chuyển dịch sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, ngành chế biến gỗ và lâm sản Gia Lai đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển mới.
Song song với quá trình chuyển đổi sản phẩm, tỉnh cũng ưu tiên thu hút các dự án đầu tư sử dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng, giảm tiêu hao nguyên liệu và giảm phát thải. Đây được xem là định hướng phù hợp với xu thế phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn cũng như các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn.
“Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng cường liên kết chuỗi và nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ là những yếu tố then chốt giúp ngành tiếp tục khẳng định vị thế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và quá trình phát triển bền vững của địa phương trong những năm tới,” ông nhấn mạnh.
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Chiều ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) kết hợp với mạng lưới đường sắt đô thị (metro) là chiến lược cốt lõi để giải quyết ùn tắc và tái cấu trúc không gian. Mô hình này tập...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...