Sau gần 40 năm mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã chuyển mình từ một nền kinh tế thiếu vốn trở thành điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn đa quốc gia và là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế, tư duy thu hút FDI cũng đứng trước yêu cầu phải thay đổi.
Ít có chủ trương nào tạo dấu ấn sâu đậm đối với tiến trình đổi mới như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Từ Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến nay, khu vực FDI đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đưa Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Những thành quả ấy là không thể phủ nhận. Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói: “Quá trình đó đã đưa Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín, thiếu vốn và phụ thuộc nhiều vào viện trợ quốc tế trở thành nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới”.
Song chính thành công của giai đoạn trước cũng đặt ra những yêu cầu mới cho giai đoạn phát triển hiện nay.
Khi Việt Nam không còn là nền kinh tế thiếu vốn; khi nhiều địa phương không còn cạnh tranh chỉ bằng đất đai, lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế; khi thuế tối thiểu toàn cầu và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng đang làm thay đổi dòng chảy đầu tư quốc tế, câu hỏi đặt ra không còn là thu hút được bao nhiêu dự án hay bao nhiêu tỷ USD vốn đăng ký. Điều quan trọng hơn là những dự án ấy mang lại điều gì cho nền kinh tế Việt Nam. Đó chính là điểm xuất phát của Nghị quyết 10 và Nghị quyết 10 cũng đã đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn nhiều: phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Nếu trước đây mục tiêu của chính sách FDI là huy động nguồn lực bên ngoài để phục vụ tăng trưởng, thì nay mục tiêu được nâng lên: sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc tế để nâng cao nội lực quốc gia. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về chính sách đầu tư mà còn là sự chuyển đổi trong tư duy phát triển.
Tinh thần nổi bật của Nghị quyết 10 không nằm ở việc mở rộng ưu đãi hay bổ sung thêm các cơ chế thu hút đầu tư, mà ở việc xác lập một thước đo mới đối với khu vực FDI.
Trong nhiều năm, thành công của thu hút đầu tư thường được nhìn qua số lượng dự án, quy mô vốn đăng ký hay tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Những chỉ số đó vẫn quan trọng, nhưng không còn là tiêu chí duy nhất.
Theo tinh thần Nghị quyết 10, hiệu quả của FDI phải được đánh giá bằng những giá trị mà khu vực này tạo ra cho nền kinh tế Việt Nam: Trình độ công nghệ được chuyển giao đến đâu, doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu như thế nào vào chuỗi cung ứng, có bao nhiêu việc làm chất lượng cao được tạo ra, bao nhiêu kỹ sư, chuyên gia và nhà quản trị Việt Nam được đào tạo, hoạt động nghiên cứu - phát triển và đổi mới sáng tạo có được hình thành tại Việt Nam hay không.
Nói cách khác, FDI không còn được nhìn nhận đơn thuần như một dòng vốn, mà là nguồn lực để hình thành năng lực phát triển mới. Trong bài phát biểu tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết 10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Một điều cần phải lưu ý là triển khai Nghị quyết 10 gắn chặt với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79 về phát triển kinh tế nhà nước. Mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là phải biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam”.
Chính vì vậy, Nghị quyết yêu cầu chuyển từ tư duy “thu hút bằng mọi giá” sang “lựa chọn có chiến lược”; từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực và môi trường đầu tư ổn định, minh bạch. Đó là sự thay đổi quan trọng nhất mà Nghị quyết 10 mang lại.
Một trong những điểm mới quan trọng nhất của Nghị quyết 10 là chuyển từ việc coi FDI chủ yếu là nguồn vốn sang coi đó là công cụ để kiến tạo năng lực mới cho nền kinh tế Việt Nam.
Năng lực mới ở đây không phải là những con số vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu, mà là những giá trị bền vững được tích lũy từ bên trong: công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp Việt Nam mạnh lên, nguồn nhân lực chất lượng cao, khả năng đổi mới sáng tạo và vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tinh thần này được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rõ: “Mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là phải biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam”. Doanh nghiệp Việt Nam phải trở thành trung tâm của quá trình liên kết này.
Thay vì khoảng cách giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước như trước đây, Nghị quyết đòi hỏi phải xây dựng hệ sinh thái công nghiệp thực chất, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và từng bước làm chủ những khâu có giá trị gia tăng cao.
Khi công nghệ được chuyển giao, kỹ năng được tích lũy và doanh nghiệp Việt đủ sức trở thành đối tác tin cậy của các tập đoàn đa quốc gia, lúc đó FDI mới thực sự trở thành động lực nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.
Nói cách khác, thành công của FDI không được đo bằng những gì nhà đầu tư mang vào Việt Nam, mà bằng những năng lực mà nền kinh tế Việt Nam tích lũy được sau quá trình hợp tác.
Nếu FDI chất lượng cao là mục tiêu thì môi trường đầu tư chất lượng cao phải là điều kiện tiên quyết. Nghị quyết 10 vì thế không chỉ đặt yêu cầu đối với nhà đầu tư nước ngoài mà còn đòi hỏi một sự thay đổi mạnh mẽ từ chính hệ thống quản lý nhà nước, các bộ ngành và đặc biệt là các địa phương.
Để thu hút và giữ chân những dự án công nghệ cao, trách nhiệm và cam kết dài hạn, Việt Nam phải chủ động nâng cấp toàn diện năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tinh thần này được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rõ nét: “Chúng ta không cạnh tranh bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn hay đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh và an ninh kinh tế lấy tăng trưởng trước mắt mà phải cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng hiện đại, nhân lực chất lượng cao, chi phí tuân thủ thấp, dịch vụ công chuyên nghiệp và môi trường kinh doanh ổn định, có thể dự báo”.
Từ lời nhấn mạnh của Tổng Bí thư có thể thấy thay vì tư duy ưu đãi đầu vào (đất đai rẻ, thuế thấp, tiêu chuẩn môi trường nới lỏng), Việt Nam cần chuyển sang hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước và đóng góp cho phát triển bền vững.
Cụ thể, phải hoàn thiện thể chế theo hướng minh bạch, ổn định, đồng bộ và phù hợp thông lệ quốc tế; đầu tư mạnh cho hạ tầng chiến lược (cảng biển, sân bay, đường cao tốc, năng lượng sạch, hạ tầng số); đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; và đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư theo hướng có chọn lọc, chuẩn bị kỹ, đồng hành lâu dài với nhà đầu tư từ khâu tìm hiểu đến mở rộng sản xuất.
Đó cũng là thông điệp quan trọng mà Nghị quyết 10 gửi tới các địa phương. Thu hút đầu tư không còn là cuộc cạnh tranh bằng ưu đãi hay chạy theo số lượng dự án, mà là cuộc cạnh tranh về chất lượng môi trường đầu tư và năng lực phát triển tổng thể.
Mỗi địa phương cần xây dựng chiến lược thu hút phù hợp với quy hoạch, lợi thế so sánh và khả năng liên kết vùng, thay vì manh mún, dàn trải hoặc phá vỡ quy hoạch chung.
Sáng 1/7, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trân trọng giới thiệu phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Sau 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị và chính quyền 3 cấp, bộ máy mới được đánh giá thông suốt, tinh gọn hơn, hướng mạnh về cơ sở, phục vụ tốt hơn...
Sau một năm vận hành mô hình mới, yêu cầu đặt ra là chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, hoàn thiện thể chế, tăng năng lực cấp xã và đổi mới phương thức quản trị bằng dữ liệu...
Đảng ủy Chính phủ thành lập Bộ phận nghiên cứu chuyên đề của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện nhiệm vụ tham mưu, tư vấn chính sách, phản biện và nghiên cứu chuyên đề trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế cần được điều phối thống nhất, phục vụ thiết thực hơn cho phát triển đất nước, tự chủ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và vị thế Việt Nam trong giai đoạn mới.
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức được khai trương sáng ngày 29/6/2026 tại trụ sở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.