Tổng lợi nhuận trước thuế quý 2/2026 của ngành ngân hàng (số liệu của 27 ngân hàng niêm yết) đạt gần 111.000 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước và 18% so với quý trước, trên nền tổng thu nhập hoạt động đạt hơn 217.000 tỷ đồng (+14% so với quý trước), theo dữ liệu thống kê từ Chứng khoán Rồng Việt (VDSC).
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu nhập hoạt động toàn ngành đạt hơn 407.000 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt hơn 205.000 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước – tốc độ được cải thiện đáng kể so với mức 14% của quý 1/2026.
Ở cấp độ ngân hàng, các mức tăng trưởng nổi bật gồm VPB (+68%), CTG (+37%), VCB (+33%), HDB (+31%), MBB (+27%), TCB (+22%); ở chiều ngược lại, SSB (-55%), EIB (-54%) và STB (-44%) là các trường hợp kéo lùi tăng trưởng chung.
Với các diễn biến trong quý 2/2026, ngành ngân hàng đã hoàn thành khoảng 47% mục tiêu lợi nhuận cả năm 2026. Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh (52%) và nhóm quy mô nhỏ (78%) đang đi trước tiến độ; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn hoàn thành 46%, trong khi nhóm quy mô trung bình mới chỉ đạt 35% – mức thấp nhất toàn ngành.
Tăng trưởng huy động của hệ thống ngân hàng đến hết quý 2/2026 đạt 5,0% từ đầu năm, thấp hơn 3,3 điểm phần trăm so với tăng trưởng tín dụng – khoảng cách tiếp tục bị nới rộng so với quý 1/2026. Dữ liệu này tương ứng với việc quy mô huy động toàn hệ thống thấp hơn khoảng 2,8 triệu tỷ đồng so với tín dụng tại thời điểm cuối quý 2/2026, nới rộng so với mức 2,6 triệu tỷ đồng cuối quý 1/2026 và 2,1 triệu tỷ đồng cuối năm 2025.
Mức độ phân hóa về tăng trưởng huy động giữa các ngân hàng rất rõ nét: nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn huy động tăng 10,7% từ đầu năm, trong khi nhóm quy mô trung bình chỉ tăng 6,0% và nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh tăng 4,1%.
Điều này diễn ra bất chấp lãi suất huy động đã tăng thêm 75-120 điểm cơ bản trong nửa đầu năm 2026 – lên 3,84% tại nhóm quốc doanh, 5,14% tại nhóm quy mô lớn và 5,56% tại nhóm quy mô trung bình – khiến tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) toàn ngành đi ngang ở vùng thấp 20,9%, thấp hơn mức đáy của năm 2022.
Với diễn biến huy động trên, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) của phần lớn ngân hàng tiếp tục duy trì hoặc tăng nhẹ và neo sát ngưỡng tối đa 85%, trong đó căng thẳng nhất là VPB (84,5%), theo sau là MBB (LDR ước tính khoảng 83%) cùng nhóm quốc doanh gồm BID và CTG (gần 83%, dù đã được tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước (KBNN) có kỳ hạn vào cấu phần huy động để tính LDR). VCB là ngoại lệ đáng chú ý khi LDR cải thiện rõ rệt, ước tính giảm khoảng 5 điểm phần trăm so với quý trước, xuống dưới 80%.
Nhìn về 6 tháng cuối năm 2026, VDSC kỳ vọng một số tín hiệu sau sẽ giúp áp lực thanh khoản hạ nhiệt: Tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh về cuối năm.
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 1743, quy định tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước có kỳ hạn được tính vào LDR nâng lên 50% từ mức 20% (tương ứng hơn 165.000 tỷ đồng được bổ sung vào cấu phần tiền gửi trong tỷ lệ LDR), giúp giảm bớt áp lực tuân thủ cho các ngân hàng thương mại quốc doanh và kéo theo nguồn cung vốn dồi dào hơn trên thị trường liên ngân hàng.
Tỷ lệ tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống có xu hướng giảm từ tháng 2/2026 (12,1%) đến cuối tháng 5/2026 (10,5%), cùng với dòng tiền từ hoạt động bán vàng của người dân trong tháng 7/2026 có thể giúp tiền gửi quay trở lại hệ thống.
Tuy nhiên, chừng nào ngân sách chưa chuyển sang trạng thái thâm hụt, khoảng cách giữa huy động và tín dụng sẽ khó thu hẹp đáng kể, đồng thời mặt bằng lãi suất huy động cũng khó đảo chiều. Đây vẫn là tín hiệu quan trọng nhất cần theo dõi để đánh giá thời điểm áp lực chi phí vốn của các ngân hàng tạo đỉnh.
Đối với nợ xấu, nợ xấu nội bảng toàn ngành tăng lên khoảng 310.000 tỷ đồng tại cuối quý 2/2026 (+6% so với quý trước), tương đương tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay khách hàng là 2,01%, gần như đi ngang so với mức 1,99% của quý 1/2026 nhờ tác động pha loãng từ tăng trưởng tín dụng cao.
Tuy nhiên, nợ nhóm 2 tăng lên hơn 212.000 tỷ đồng, đưa tỷ lệ nợ nhóm 2 lên 1,37%, từ mức 1,23% của quý 1/2026.
Cùng với đó, nợ xấu hình thành ròng trong quý 2/2026 đạt gần 50.000 tỷ đồng, giảm nhẹ so với mức 53.000 tỷ đồng của quý trước, nhưng nợ nhóm 2 hình thành ròng lại tăng lên gần 81.000 tỷ đồng – mức cao nhất kể từ quý 1/2023. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý 2/2026 đạt hơn 43.000 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với quý trước.
VDSC cho rằng việc nợ xấu hình thành ròng duy trì ở mức cao trong quý 2/2026 là hệ quả của mặt bằng lãi suất cho vay tăng khá nhanh (lợi suất các khoản cho vay đã tăng khoảng 110 điểm cơ bản trong giai đoạn từ cuối quý 3/2025 đến quý 2/2026, trong khi mức tăng thực tế của lãi suất cho vay còn cao hơn), qua đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, đặc biệt ở phân khúc bán lẻ.
Điểm cần chú ý nhất là đà tăng của nợ nhóm 2 – vốn là chỉ báo sớm cho nợ xấu trong 1-2 quý tới – trong bối cảnh bộ đệm dự phòng của phần lớn ngân hàng chưa được củng cố tương xứng. VCB nổi bật khi là ngân hàng duy nhất cải thiện rõ rệt tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) sau quý 2/2026, trong khi đa số các ngân hàng còn lại chỉ duy trì hoặc đi ngang ở mức thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2023-2024.
Do đó, VDSC cho rằng áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng trong 6 tháng cuối năm 2026 và là rủi ro chính đối với tăng trưởng lợi nhuận của ngành, đặc biệt tại nhóm ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) dưới 60%.




Các ngân hàng trung ương của Nga Nga và Kazakhstan đang bán bớt một phần dự trữ vàng, trong khi các ngân hàng trung ương của Trung Quốc và Ba Lan lại đang tăng cường mua vào...
VCBF cho biết trang thông tin điện tử chính thức của VCBF là https://www.vcbf.com. UBCKNN khuyến cáo nhà đầu tư thận trọng, kiểm tra, đối chiếu các thông tin trước khi giao dịch.
VnEconomy giới thiệu nhận định và khuyến nghị đầu tư của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường ngày 27/10/2026.
Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 892,2 tỷ đồng trong phiên; riêng giao dịch khớp lệnh, giá trị bán ròng đạt 875,4 tỷ đồng.
Lợi nhuận sau thuế của nhóm doanh nghiệp đã công bố tăng 31,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm phi tài chính tăng 71,5%, tiếp tục vượt xa nhóm tài chính (+6,9%).
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.