Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ quan trọng trong việc thiết lập khung khổ pháp lý cho giao dịch phát thải và chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho sàn giao dịch carbon.
Theo ông Andri Meier, Phó Trưởng ban Hợp tác Phát triển, Đại sứ quán Thụy Sĩ tại Việt Nam, việc Việt Nam thiết lập được khuôn khổ pháp lý và cơ chế quản trị là bước đi đầu tiên quan trọng với Việt Nam để thúc đẩy thị trường carbon. Tuy nhiên, sự thành công của một thị trường carbon phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.
“Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, việc đưa vào vận hành sàn giao dịch sẽ thành công khi nó được coi là một chiến lược phát triển kinh doanh và cơ sở hạ tầng thị trường dài hạn. Trong đó, cơ sở hạ tầng nền tảng có tầm quan trọng sống còn trong việc tạo ra uy tín vận hành”, ông Andri Meier nhấn mạnh.
Theo đó, để giành được niềm tin của các doanh nghiệp và nhà đầu tư, Việt Nam cần đưa vào áp dụng một hệ thống MRV (Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định) đáng tin cậy cùng một hệ thống đăng ký bảo mật, có khả năng liên thông. Những hệ thống này cần được thiết lập và kiểm chứng thông qua các dự án thí điểm trước khi đưa vào vận hành chính thức.
“Tuy vậy, quá trình này đòi hỏi một khuôn khổ ưu đãi hợp lý nhằm thu hút sự tham gia của các đơn vị trên thị trường, bất kể đó là bên bán ròng hay bên mua ròng. Song song đó, việc xây dựng năng lực nền tảng cho các công ty về quản lý dữ liệu, tính minh bạch và tuân thủ MRV cũng rất quan trọng”, đại diện Đại sứ quán Thụy Sĩ nhấn mạnh.
Thực tế cho thấy, thị trường carbon toàn cầu đang chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng và đòi hỏi tính minh bạch cao. Theo dữ liệu thị trường cập nhật, các thị trường carbon tuân thủ đã tạo ra doanh thu khoảng 103 tỷ USD cho các chính phủ trong năm 2024; thị trường carbon tự nguyện ghi nhận giá trị giao dịch đạt 535 triệu USD trong năm 2024.
Dù giá trị giao dịch tự nguyện có giảm song thị trường vẫn duy trì ổn định ở mức 182 triệu tấn trong năm 2024. Những con số này cho thấy tiềm năng to lớn nếu Việt Nam xây dựng thành công cơ sở hạ tầng chuẩn quốc tế để hòa nhịp vào dòng chảy toàn cầu.
Trong bối cảnh này, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhận ra rằng thị trường carbon sẽ ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đến quyết định đầu tư, thương mại và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, sự bối rối về việc “bắt đầu từ đâu” vẫn còn hiện hữu.
Chia sẻ từ kinh nghiệm của Thụy Sĩ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp dựa trên các cơ chế của thị trường và khí hậu trên toàn cầu, ông Andri Meier nhấn mạnh rằng thị trường carbon không nên được nhìn nhận như một công cụ khí hậu biệt lập. Việc tham gia thị trường còn giúp huy động đầu tư tư nhân và củng cố năng lực cạnh tranh của các công ty Việt Nam trong bối cảnh thị trường toàn cầu ngày càng khắt khe, đòi hỏi các sản phẩm ít phát thải.
Hiện, Việt Nam đã thực hiện những bước đi quan trọng trong việc thiết lập khuôn khổ cho thị trường carbon trong nước và hoạt động giao dịch tín chỉ carbon quốc tế. Cơ hội tiếp theo, theo ông Meier, chính là chuyển đổi khuôn khổ này thành các dự án giảm nhẹ phát thải chất lượng cao và sẵn sàng đón nhận đầu tư.
Trên thực tế, Việt Nam đã có những minh chứng rõ nét về khả năng khai thác giá trị kinh tế từ các dự án giảm phát thải chất lượng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực lâm nghiệp. Gần đây nhất, Việt Nam đã thu về 56,5 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhờ việc cắt giảm 10,3 triệu tấn CO2 thông qua các nỗ lực bảo vệ rừng và quản lý đất đai hiệu quả. Khoản tiền này được trả cho kết quả giảm phát thải đã được xác minh trong giai đoạn từ năm 2018 đến 2019 tại khu vực Bắc Trung Bộ của Việt Nam. Những thành quả bước đầu này không chỉ cung cấp nguồn tài chính trực tiếp cho việc bảo vệ rừng mà còn là tiền đề quan trọng, tạo đà để nhân rộng sang các dự án tín chỉ trong công nghiệp và năng lượng tái tạo.
Để thúc đẩy thị trường carbon, Chương trình Hợp tác 2025–2028 của Thụy Sĩ tại Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi như: thương mại và đổi mới bền vững, tài chính công và tư nhân bền vững, cùng với phát triển công nghiệp và đô thị thông minh thích ứng với khí hậu.
Ông Meier cho biết Thụy Sĩ và Việt Nam có thể làm sâu sắc hơn nữa sự hợp tác trong các lĩnh vực đảm bảo tính toàn vẹn của thị trường và MRV. Hai bên cũng sẽ tập trung nâng cao năng lực, thúc đẩy tài chính bền vững và phát triển các dự án mà ở đó doanh thu từ carbon có thể khơi thông thêm các khoản đầu tư và công nghệ mới. Đặc biệt, khi hiệp định hợp tác song phương theo Điều 6 (Thỏa thuận Paris) giữa hai nước được ký kết và đi vào hoạt động, sẽ bổ sung thêm một kênh tài chính rất quan trọng khác cho các dự án đủ điều kiện.
Mục tiêu cốt lõi không chỉ dừng lại ở việc tạo ra một thị trường giao dịch tín chỉ. Trọng tâm là việc sử dụng tài chính carbon một cách chiến lược nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh của Việt Nam, huy động nguồn vốn từ khu vực tư nhân và hỗ trợ lộ trình đạt mức phát thải ròng bằng 0 (net-zero), đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế.



Ngày 20/10 tại Copenhagen, Vietnam Airlines ký biên bản ghi nhớ với Copenhagen Airport, Scandinavian Airlines Systems (SAS) và Danish Industry (DI), tập trung vào phát triển đường bay, mở rộng hợp tác hàng không và kết nối với cộng đồng doanh nghiệp Đan Mạch...
Hateco và APM Terminals ký biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu đầu tư, phát triển và vận hành mạng lưới ga hàng hóa đường sắt tại Việt Nam, với tổng mức đầu tư sơ bộ dự kiến khoảng 3,5 tỷ USD...
Diễn đàn Đổi mới sáng tạo vì mọi người 2026 – Ninh Binh Innovation for All Forum (NB-IAF 2026) đã đặt cơ sở cho cơ chế hợp tác thường xuyên giữa tổ chức của người khuyết tật, cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu và các công ty công nghệ...
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026) diễn ra từ ngày 26-29/10, thành phố dự kiến công bố 12 dự án đầu tư mới với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD...
Cùng với việc tài trợ chuỗi cung ứng thông qua doanh nghiệp đầu ngành, việc áp dụng bảo hiểm rủi ro xuất khẩu và quỹ đầu tư cho các thị trường mới nổi… Thụy Sĩ sẽ cùng với các đối tác Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng hiệu quả và bền vững…
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê trong thời gian qua được ban hành nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư. Quỹ đất đối với nhà ở cho thuê sẽ được bố trí tại các khu vực phường thuộc đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2.