Cập nhật triển vọng ngành chứng khoán cuối năm 2026, Chứng khoán VnDirect cho rằng thanh khoản thị trường sẽ dần cải thiện so với mức thấp trong 5 tháng đầu năm, qua đó hỗ trợ tăng trưởng cho vay ký quỹ.
Các yếu tố dài hạn như cải cách thị trường vốn và lộ trình hướng tới việc được đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng của MSCI vẫn là động lực đầu tư hấp dẫn đối với ngành chứng khoán.
Bên cạnh đó, định giá theo tỷ lệ giá trên giá trị sổ sách (P/B) của ngành chứng khoán đã điều chỉnh về mức trung bình 5 năm, qua đó mở ra dư địa tăng giá trong năm 2026 khi lợi nhuận ngành được kỳ vọng cải thiện.
Thanh khoản thị trường được kỳ duy trì khoảng 34.000 tỷ đồng/phiên trong nửa cuối năm 2026, tăng khoảng 16% so với cùng kỳ, nhờ dòng tiền mới sau khi Việt Nam được FTSE chính thức nâng hạng, kỳ vọng nâng hạng MSCI trong năm 2027, làn sóng phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) và hệ thống giao dịch mới KRX.
Dòng tiền mới sau khi Việt Nam chính thức được nâng hạng theo FTSE vào tháng 9, cùng với việc triển khai cơ chế giao dịch xuyên trưa, sẽ giúp duy trì ADTV của thị trường ở mức 34.000 tỷ đồng/phiên.
Trong quý 1/2026, dư nợ cho vay toàn ngành tăng 2,6% so với quý trước và 51% so với cùng kỳ, dẫn dắt bởi nhóm công ty chứng khoán lớn và các công ty có liên kết với ngân hàng. Động lực tăng trưởng đến từ việc mở rộng cho vay đối với khách hàng tổ chức và các chủ doanh nghiệp.
Trong nửa cuối năm 2026, kỳ vọng đà tăng trưởng của hoạt động cho vay ký quỹ sẽ tiếp tục được duy trì nhờ: thanh khoản thị trường được dự báo cải thiện, qua đó hỗ trợ nhu cầu sử dụng dư nợ margin; các công ty chứng khoán tiếp tục tăng vốn để hỗ trợ tăng trưởng cho vay ký quỹ.
Biên lãi ròng (NIM) của mảng cho vay ký quỹ có thể dần cải thiện vào các tháng cuối năm, khi áp lực chi phí vốn hạ nhiệt và điều kiện thị trường trở nên thuận lợi hơn, qua đó hỗ trợ hiệu quả sinh lời của mảng cho vay ký quỹ.
Biên lợi nhuận mảng môi giới sẽ cải thiện trong nửa cuối năm 2026 khi thanh khoản thị trường được cải thiện, tuy nhiên sẽ có sự phân hóa.
Các công ty chứng khoán có nền tảng khách hàng tổ chức và đã sở hữu thị phần môi giới lớn, tập trung vào chất lượng dịch vụ thay vì cạnh tranh phí, sẽ hưởng lợi nhiều hơn nhờ khả năng duy trì quyền lực định giá (pricing power). Trong khi đó, các công ty chứng khoán quy mô nhỏ có thể tiếp tục chịu áp lực biên lợi nhuận do cạnh tranh phí gay gắt để gia tăng thị phần.
Quy mô tăng vốn toàn ngành công ty chứng khoán trong năm 2025 ghi nhận mức tăng đột biến, gấp khoảng 3 lần so với năm 2024. Động lực cốt lõi đến từ làn sóng IPO của các công ty chứng khoán quy mô lớn (VPX, VCK, TCX), phản ánh nhu cầu cấp thiết trong việc củng cố năng lực tài chính để đáp ứng tốc độ tăng trưởng của thị trường.
Sau thời gian tạm gián đoạn trong quý 1/2026 do ảnh hưởng của bất ổn địa chính trị, hoạt động IPO kỳ vọng sôi động trở lại với kế hoạch niêm yết của các công ty LPBS, HDS và Kafi.
Bên cạnh yếu tố IPO, động lực tăng vốn còn đến từ áp lực nội tại khi nhiều công ty chứng khoán đã tiệm cận hoặc chạm trần tỷ lệ cho vay margin (HCM, MBS).
Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng đòn bẩy của nhà đầu tư vẫn ở mức cao, việc bổ sung vốn là điều kiện cần để duy trì và mở rộng dư nợ, qua đó bảo vệ nguồn thu cốt lõi. Đáng chú ý, nhóm công ty chứng khoán liên kết với ngân hàng sẽ tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt. Hoạt động tăng vốn của nhóm này không chỉ nhằm hỗ trợ mảng cho vay ký quỹ, mà còn gắn chặt với chiến lược “beyond banking” của ngân hàng mẹ — mở rộng sang các mảng như môi giới, quản lý tài sản và ngân hàng đầu tư.
Trong dài hạn, quy định về tỷ lệ an toàn tài chính đối với các công ty chứng khoán theo Thông tư 102/2025/TT-BTC sẽ thúc đẩy việc tăng vốn ở những công ty chứng khoán nắm giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời định hướng toàn ngành tập trung vào các hoạt động cốt lõi như cho vay ký quỹ, kinh doanh nguồn vốn và giấy tờ có giá, hạn chế các nghiệp vụ không phải là hoạt động kinh doanh chính.
Về định giá, theo VnDirect, định giá ngành vẫn ở mức hợp lý với tỷ lệ giá trên giá trị sổ sách (P/B) hiện tại khoảng 1,75 lần, thấp hơn mức trung bình 5 năm (1,9 lần), dù triển vọng lợi nhuận được hỗ trợ bởi thanh khoản thị trường cải thiện và dư nợ margin tiếp tục tăng trưởng.
Nhiều công ty chứng khoán đầu ngành đang giao dịch dưới mức P/B bình quân lịch sử, mở ra dư địa tăng giá khi giá trị giao dịch duy trì ở mức cao và tiến trình nâng hạng thị trường diễn ra thuận lợi.
VnDirect ưu tiên các công ty chứng khoán có tỷ lệ cho vay margin trên vốn chủ sở hữu còn thấp, tạo dư địa mở rộng cho vay, cùng các doanh nghiệp có thế mạnh về khách hàng nước ngoài, dự kiến hưởng lợi từ dòng vốn ngoại sau nâng hạng FTSE và sự sôi động trở lại của thị trường vốn.
Thay đổi mấu chốt của phiên hôm nay là nhịp kéo giá các cổ phiếu trụ ngân hàng ngay đầu phiên chiều. Buổi sáng chính nhóm này triệt tiêu sức mạnh của VIC và VHM. Điểm tích cực là nhịp kéo này được hưởng ứng khá tốt.
15 phút đầu tiên của phiên chiều nay đã xoay chuyển hoàn toàn cục diện bán tháo và lao dốc của cổ phiếu. Trong khi VIC, VHM vẫn chưa kịp phản ứng thì loạt blue-chips ngân hàng được kéo thốc giá. VN-Index phục hồi mạnh 1,4% chỉ trong thời gian rất ngắn này, tạo đà cho toàn bộ nhịp tăng còn lại.
Sự phục hồi mạnh của VIC và VHM đang giúp VN-Index điều chỉnh rất nhẹ trong phiên sáng nay. Tuy nhiên cổ phiếu đang thể hiện bức tranh khác khi tới trên 56% các mã có giao dịch của chỉ số đã lao dốc quá 1% giá trị, trong đó gần 130 mã giảm quá 2%.
Ngoài khả năng hưởng lợi từ nền lãi suất cao, lượng tiền mặt dồi dào còn tạo điều kiện để doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội tăng trưởng trong tương lai.
Trong phiên giao dịch ngày 22/7, tỷ giá đồng yên Nhật Bản so với đồng USD giảm xuống mức đáy mới của 40 năm qua. Sức ép mất giá đối với yên tăng thêm khi chiến lược kinh tế mới của Thủ tướng Sanae Takaichi khiến nhà đầu tư lo ngại về sức khỏe nền tài khóa của Nhật Bản...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.